- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 734/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/7/2023. V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 170/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17.5.2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2023/QĐST- HNGĐ ngày 14.6.2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T– sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Xã G, Huyện H, Tỉnh I.
Bị đơn: Ông Trần Văn T– sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xã G, Huyện H, Tỉnh I.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19/02/2021, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Bà và ông Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến xây dựng gia đình vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới, ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn ngày 28/01/2011.
Thời gian lúc đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ cãi nhau. Bà và ông Thanh đã nhiều lần tự hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng đều không thành, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt hơn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà đề nghị Tòa giải quyết cho ly hôn với ông Thanh để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Gia T, sinh ngày 11/06/2011. Bà Thuyền đồng ý giao con chung Gia Tuấn cho ông Thanh nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có
- Nợ chung: không có
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải bà Nguyễn Thị Thanh Tvà ông Trần Văn T thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông Thanh không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt, về phía bị đơn ông Trần Văn T, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Thanh nhưng ông Thanh vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn trình bày ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Trần Văn T là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn ông Trần Văn T cư trú tại 64/4C ấp 4, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng ông Trần Văn T vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 14.6.2023 cũng được tống đạt hợp lệ cho ông Thanh nhưng ông Thanh vắng mặt không lý do, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt. Tòa án đã triệu tập các đương sự hợp lệ lần thứ hai, do vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Về quan hệ pháp luật: Hội đồng xét xử nhận thấy bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Trần Văn T tự nguyện xây dựng gia đình từ năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn ngày 28/01/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Về quan hệ vợ chồng: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Trần Văn T có thời gian sống chung từ năm 2011, có đăng ký kết hôn và có 01 con chung. Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh theo lời trình bày của bà Thuyền là do vợ chồng thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định để tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Trần Văn T trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông Thanh không đến, điều này chứng tỏ ông Thanh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Trần Văn T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc ly hôn là cần thiết nên việc bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Trần Văn T có 01 con chung chung Trần Gia T, sinh ngày 11/06/2011. Bà Thuyền đồng ý giao con chung Gia Tuấn cho ông Thanh nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy hiện trẻ Gia Tuấn đang sống với ông Thanh nên việc giao trẻ Gia Tuấn cho ông Thanh nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Gia Tuấn nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Gia Tuấn cho ông Thanh nuôi dưỡng là có cơ sở chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Ông Thanh vắng mặt và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh Tchịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Trần Văn T.
Về con chung: có 01 con chung chung Trần Gia T, sinh ngày 11/06/2011. Giao trẻ Gia Tuấn cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà Thuyền cho đến khi có đơn yêu cầu của ông Thanh.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong vụ án này đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Trong vụ án này đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí DSST: Bà Nguyễn Thị Thanh T chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0074629 ngày 16.3.2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.HM; - Cơ quan THADS H.HM; - Ủy ban nhân dân xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tp.HCM. - Các đương sự; - Lưu | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Anh Phong |