vanban.org

Bản án 730/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/12/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà Lâm Thị B có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Châu A, ông Đường Nguyễn Anh T và bà Đường Nguyễn Xuân T số tiền n mua bán nhà còn thiếu là 2.

Kể từ ngày bên ư c thi hành án có ơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi su t ư c quy ịnh tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "NGUYỄN THỊ CHÂU ANH - LÂM THỊ BỒNG"
  • Tòa quyết gì? Bà Lâm Thị B có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Châu A, ông Đường Nguyễn Anh T và bà Đường Nguyễn Xuân T số tiền n mua bán nhà còn thiếu là 2.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 730/2021/DS-PT
Ngày: 27-12-2021
V/v Tranh ch p h p ng mua
bán nhà

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thủy

Các Thẩm phán:

1/ Bà Lê Thị Mỹ Nhung

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Cương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: - Ông Nguyễn Văn Hoàng - Kiểm Sát viên.

Trong các ngày 22 và 27 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H ã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2021/DS-PT ngày 05 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh ch p h p ng mua bán nhà”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 327/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận T nay là thành phố T, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4472/2021/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2021, giữa các ương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Châu A, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Số nhà 57/3 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, thành phố T, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn T n T, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ: Số nhà 6/26 Đường số HM, Khu phố B, phường LĐ, thành phố T, Thành phố H.

2. Bị đơn: Bà Lâm Thị B, sinh năm 1955.

Địa chỉ: Số nhà 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, thành phố T, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn H D, sinh năm 1976 (có mặt). Địa chỉ: Số 116B ường NĐC, phường ĐK, Quận M, Thành phố H. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1. Ông Đường Nguyễn Anh T, sinh năm 1985 (vắng mặt). 3.2. Bà Đường Nguyễn Xuân T, sinh năm 1993 (vắng mặt). Địa chỉ: Số nhà 57/3 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, thành phố T, Thành phố H. 3.3. Ông Lê Lâm D, sinh năm 1984 3.4. Bà Lê Lâm Tường V1, sinh năm 1985 Địa chỉ: Số nhà 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, thành phố T, Thành phố H. 3.5. Bà Lê Thị V, sinh năm 1984 Địa chỉ: Số nhà 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, thành phố T, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp của ông D, bà V1, bà V: Ông Nguyễn H D, sinh năm 1976 (có mặt). Địa chỉ: Số 116B ường NĐC, phường ĐK, Quận M, Thành phố H. 3.6. Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL Địa chỉ trụ sở: Số 40, 42, 44 ường PHT, phường VTV, thành phố RG, tỉnh KG. Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1995 (có mặt). Địa chỉ liên lạc: Số 98-108 A ường CMTT, Phường VTS, Quận 3, Thành phố H. 4. Người kháng cáo: Bà Lâm Thị B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại ơn khởi kiện ngày 27 tháng 01 năm 2019 của nguyên ơn bà Nguyễn Thị Châu A và lời trình bày của người ại diện theo ủy quyền ông Nguyễn T n T: Ngày 27 tháng 4 năm 1987 bà Châu A cùng ch ng là Đường Ngọc T có bán cho v ch ng ông Lê Kim H và bà Lâm Thị B một căn nhà có diện tích 30m2 trên diện tích t 400m2 tại ịa chỉ 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, quận T, Thành phố H với giá 15.200 ng, tương ương 12 chỉ vàng 24k. Nhà, t có ngu n gốc do v ch ng bà Châu A mua lại của ông Nguyễn Văn T một phần và ư c ông Tám tặng cho một phần. Ngày 13 tháng 5 năm 1987 v ch ng bà B ã thanh toán cho v ch ng bà Châu A số tiền 11.400 ng tương ương 09 chỉ vàng, còn n lại 3.800 ng tương ương 03 chỉ vàng. Do ông H, bà B hứa sẽ thanh toán số tiền còn lại sau và xin ư c nhận nhà ở nên v ch ng bà Châu A ng ý bàn giao nhà. Sau ó nguyên ơn ã nhiều lần yêu cầu v ch ng bị ơn thanh toán số tiền còn lại nhưng bị ơn không thực hiện. Từ năm 2004 bà Châu A ã khiếu nại ến chính quyền ịa phương yêu cầu giải quyết, các lần hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường HBC phía bà B khi ng ý trả t khi ng ý trả tiền nhưng không thực hiện.

Ông Đường Ngọc T ã chết năm 2000, ến nay nguyên ơn yêu cầu huỷ h p ng mua bán nhà ngày 27/4/1987 do ông Đường Ngọc T ký kết với bà Lâm Thị B và ông Lê Kim H. Buộc bị ơn và những người ang quản lý, sử dụng nhà, t giao trả nhà, t tại ịa chỉ số 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, quận T, Thành phố H cho nguyên ơn. Ông Đường Ngọc T và bà Nguyễn Thị Châu A có hai người con là Đường Nguyễn Anh T và Đường Nguyễn Xuân T.

Người ại diện theo ủy quyền của bị ơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

Ngày 27/4/1987 ông Đường Ngọc T và bà Lâm Thị B, ông Lê Kim H có ký văn tự mua bán nhà với nội dung ông T ng ý bán cho ông H bà B căn nhà có diện tích 30m2 với giá 15.200 ng, tương ương 12 chỉ vàng 24k, ông H bà B ã thanh toán 09 chỉ vàng còn n lại số tiền tương ương 03 chỉ. Hai bên thỏa thuận khi ông T làm xong gi y tờ nhà cho gia ình bà B thì bên mua sẽ thanh toán ủ số tiền còn lại. Diện tích t thực tế hai bên chuyển như ng khoảng 360m2. Sau khi mua nhà, t của ông T bà A thì ông H, bà B tiếp tục nhận chuyển như ng của ông Nguyễn Văn T quyền sử dụng t liền kề có diện tích 100m2 nhập thành một thửa sử dụng chung. Năm 1998 ông H chết, năm 1999 gia ình bà B tự ăng ký kê khai nhà t, năm 2003 gia ình bà B ã nộp h sơ ăng ký c p gi y chứng nhận và ến năm 2013 ã ư c Ủy ban nhân dân quận T c p gi y chứng nhận quyền sử dụng t ở, quyền sở hữu nhà ở, công nhận diện tích t 460,3m2. Do thời gian mua bán ã lâu mà bên bán không hoàn t t thủ tục gi y tờ nhà, t cho gia ình bà B nên theo thoả thuận thì bà B, ông H không phải trả tiếp số tiền còn lại. Đến nay bà B ã ư c nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà nên không ng ý với yêu cầu của nguyên ơn. Bà B và ông H có hai người con là Lê Lâm D và Lê Lâm Tường V1.

Những người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đường Nguyễn Anh T và bà Đường Nguyễn Xuân T trình bày: Ông, bà là con của ông Đường Ngọc T và bà Nguyễn Thị Châu A. Ông T ã chết năm 2000, giao dịch mua bán nhà, t với ông H, bà B do ông T và Châu A thực hiện. Ông bà thống nh t với ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Châu A. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy ịnh của pháp luật.

2. Người ại diện theo uỷ quyền của ông Lê Lâm D và bà Lê Lâm Tường V1 là bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

Ông D, bà V là con của ông H và bà B, ông H ã chết năm 1998. Nhà, t tại ịa chỉ số 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, quận T, Thành phố H do ông H, bà B mua của ông T, bà A ã ư c Ủy ban nhân dân quận T c p gi y chứng nhận cho bà B là ng sở hữu và ại diện cho các thừa kế của ông Lê Kim H. Năm 2018 ông D bà V ã ng ý cho bà B ư c hưởng toàn bộ di sản của ông H nên ến nay bà B là chủ sở hữu tài sản. Ông D, bà V thống nh t với ý kiến trình bày của bà Lâm Thị B và không ng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn. 3. Bà Lê Thị V trình bày: Bà là v của ông Lê Lâm D, là con dâu của bà Lâm Thị B. Năm 2019 v ch ng bà tiến hành xây dựng nhà trên một phần diện tích t của cha mẹ ch ng tại ịa chỉ số 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, quận T, Thành phố H. Quá trình xây dựng do thiếu tiền nên ngày 30/5/2019 v ch ng bà có ký h p ng tín dụng với Ngân hàng TMCP KL ể vay số tiền 1.000.000.000 ng, ngày 24, 25/9/2019 vay thêm số tiền 300.000.000 ng. Tổng số tiền v ch ng bà vay ể xây dựng nhà là 1.300.000.000 ng. Do v ch ng bà không có tài sản nên bà B ng ý thế ch p tài sản là nhà, t tại ịa chỉ số 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, quận T, Thành phố H ảm bảo cho khoản vay. H p ng vay với thời hạn 10 năm, ến nay chưa ến hạn nên v ch ng bà chưa thanh toán n gốc, hàng tháng chỉ thanh toán tiền lãi su t. Bà không ng ý với yêu cầu của nguyên ơn. Người ại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP KL, ông Nguyễn Hữu L trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần KL và ông Lê Lâm D, bà Lê Thị V có ký các h p ng tín dụng g m: H p ng tín dụng từng lần số 0039/19/HĐTD/0102-6993 ngày 30/5/2019 và H p ng tín dụng từng lần số 0114/19/HĐTD/0102/6993 ngày 24, 25/9/2019 với nội dung ngân hàng ng ý cho ông D, bà V vay số tiền 1.300.000.000 ng trong thời hạn 10 năm, mức lãi su t cho vay 12 và 12,8%/năm, mục ích vay xây dựng nhà. Để ảm bảo cho khoản tiền ông D, bà V vay, bà Lâm Thị B ã ký h p ng thế ch p với ngân hàng ể thế ch p tài sản của bà B là nhà, t tại 57/6 Đường số MT, Khu phố B, phường HBC, quận T, Thành phố H theo h p ng thế ch p quyền sử dụng t và tài sản gắn liền với t số 0039/19/HĐTC-BĐS/0102-6993 ngày 30/5/2019 và H p ng thế ch p sửa ổi, bổ sung số 0039.1/19/HĐTC-BĐS/0102-6993 ngày 24 và 25/9/2019. Tài sản thế ch p ã ư c ngân hàng ăng ký giao dịch bảo ảm ngày 01/6/2019. Sau khi ký các h p ng, ngân hàng ã giải ngân tiền vay và hàng tháng bên vay thanh toán úng thỏa thuận. Do h p ng chưa hết thời hạn, tài sản ảm bảo có giá trị lớn và bên vay không vi phạm nghĩa vụ nên ngân hàng không có yêu cầu bên vay phải thanh toán trước thời hạn, chỉ ề nghị Tòa án khi giải quyết vụ án, xem xét bảo ảm quyền l i của ngân hàng. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên ơn thay ổi yêu cầu khởi kiện ng ý tiếp tục thực hiện h p ng, yêu cầu bị ơn thanh toán số tiền còn lại tương ương giá trị ¼ diện tích t ã chuyển như ng theo giá của Hội ng ịnh giá ngày 03/7/2020. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 327/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận T ã tuyên xử:

1. Ch p nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Châu A về việc “Tranh ch p h p ng mua bán nhà và chuyển như ng quyền sử dụng t” ối với bà Lâm Thị B;

Công nhận h p ng mua bán nhà và chuyển như ng quyền sử dụng t do ông Đường Ngọc T và ông Lê Kim H, bà Lâm Thị B ký kết ngày 27/4/1987 có hiệu lực;

Bà Lâm Thị B có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Châu A, ông Đường Nguyễn Anh T và bà Đường Nguyễn Xuân T số tiền 3.726.375.000 (ba tỷ bảy trăm hai mươi sáu triệu ba trăm bảy lăm ngàn) ng.

Kể từ ngày bên ư c thi hành án có ơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi su t ư c quy ịnh tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các ương sự theo luật ịnh.

Ngày 02 tháng 10 năm 2020, bị ơn bà Lâm Thị B có ơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị ơn bà Lâm Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo: Yêu cầu Hội ng xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn.

Nguyên ơn bà Nguyễn Thị Châu A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà A ề nghị Hội ng xét xử phúc thẩm bác yêu cầu kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án c p phúc thẩm ã thực hiện úng các quy ịnh pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý ến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho ến trước khi nghị án, Hội ng xét xử phúc thẩm ã tiến hành phiên tòa úng trình tự, thủ tục theo quy ịnh của Bộ luật Tố tụng dân sự; các ương sự trong vụ án ã ch p hành úng quy ịnh pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong h sơ vụ án th y Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn, công nhận h p ng mua bán nhà và chuyển như ng quyền sử dụng t do ông Đường Ngọc T và ông Lê Kim H, bà Lâm Thị B ký kết ngày 27/4/1987 là có căn cứ, Buộc bà Lâm Thị B có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Châu A, ông Đường Nguyễn Anh T và bà Đường Nguyễn Xuân T số tiền chưa thanh toán tương ứng với diện tích t theo giá trị hiện nay là 3.726.375.000 ng trong ó có tính ến các chi phí và công sức óng góp của bị ơn là úng quy ịnh. Đề nghị Hội ng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị ơn giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án, ư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan iểm, sau khi nghị án, Hội ng xét xử phúc thẩm nhận ịnh: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Đơn kháng cáo của bà Lâm Thị B còn trong hạn luật ịnh, nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm úng thời hạn qui ịnh tại Điều 273 và Điều 276 Bộ Luật Tố tụng dân sự nên ơn kháng cáo là h p lệ và ư c xem xét theo trình tự phúc thẩm. [1.2] Quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng và thẩm quyền giải quyết Tòa án c p sơ thẩm ã xác ịnh úng. [1.3] Về sự vắng mặt của ương sự: Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Tu n, bà Thảo ều có ơn ề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ương sự nêu trên. [2] Về yêu cầu kháng cáo của bà Lâm Thị B: Bà B yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Châu A, cụ thể: Do thời gian mua bán ã lâu mà bên bán không hoàn t t thủ tục gi y tờ nhà, t cho gia ình bà B nên theo thoả thuận thì bà B, ông H không phải trả tiếp số tiền còn lại. Đến nay bà B ã ư c nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà nên không ng ý với yêu cầu của nguyên ơn. [2.1] Xét th y: Trong phần nhận ịnh của bản án dân sự sơ thẩm, Tòa c p sơ thẩm ã căn cứ vào Văn tự mua bán nhà ngày 27/4/1987 và lời trình bày của nguyên ơn và bị ơn ều xác ịnh nguyên ơn có bán cho bị ơn căn nhà 30m2 gắn liền với quyền sử dụng t có diện tích 360,3 m2 với giá 15.200 ng. Thực hiện h p ng, bị ơn ã thanh toán số tiền 11.400 ng còn n lại 3.800 ng tương ương 03 chỉ vàng và ã nhận nhà, t sử dụng. H p ng ã ư c hai bên thực hiện ngay sau khi ký kết, phía nguyên ơn ã bàn giao tài sản, bị ơn ã thanh toán ¾ giá trị h p ng. Bị ơn ã ư c Ủy ban nhân dân quận T c p gi y chứng nhận quyền sử dụng t và quyền sở hữu nhà ở vào ngày 28/5/2013, công nhận quyền sử dụng t 460,3 m2 (bao g m cả diện tích bị ơn nhận chuyển như ng của ông Nguyễn Văn T), trên cơ sở này Tòa c p sơ thẩm ã công nhận h p ng là phù h p. Xét, c p sơ thẩm chưa ánh giá ầy ủ bản ch t sự việc, vì chính tại Văn tự mua bán nhà ngày 27/4/1987 hai bên cam kết “Giá mua nhà và diện tích ghi trên là thật. Bên bán giao nhà, bên mua giao đủ tiền. Sau khi việc mua bán được Ủy ban nhân dân hoặc Sở QLNĐ/TP chấp thuận”. Xét trong Văn tự mua bán nhà các bên cũng không có thỏa thuận rõ ràng về thời gian và trách nhiệm bên nào trực tiếp tiến hành các thủ tục làm gi y tờ sang tên cho phía bà B. Trong văn tự này không thể hiện việc các bên ã giao nhận tiền và nhà ngay tại thời iểm ký kết văn tự mua bán nhà. Nhưng trên thực tế các bên ã thừa nhận, bên bán ã giao toàn bộ hiện trạng nhà t cho bên mua và bên mua ã thanh toán cho bên bán 11.400 ng còn n lại 3.800 ng tương ương 03 chỉ vàng (theo ơn khởi kiện ngày 27/01/2019 (bút lục số 177)).

Xét, Gi y biên nhận do ông Lê Văn H viết ngày 13/5/1987 xác nhận bên mua còn n 03 chỉ vàng 24k. Phía nguyên ơn phủ nhận nội dung ông H ghi trong Gi y biên nhận về việc hai bên không có giao kèo “Sau khi làm gi y tờ h p thức hóa xong của căn nhà thì ông H sẽ thanh toán số tiền còn lại tương ương với 03 chỉ vàng”. Nhưng thừa nhận có giữ Gi y biên nhận này của ông H và cho rằng gi y biên nhận này ông H viết nhằm xác nhận ông H còn n 03 chỉ vàng

Xét, tại các Biên bản hòa giải ở khu phố và Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường HBC, quận T (Bút lục 157, 158, 159) ều thể hiện việc bà Châu A trình bày: “Nguồn gốc thửa đất là của chủ cũ sang tên cho tôi đến khi tôi sang nhượng bớt cho chị B thì vẫn theo thứ tự là chủ cũ phải làm thủ tục sang nhượng cho tôi trước rồi từ tôi mới làm giấy sang nhượng cho chị B. Về phần lo thủ tục kể cả thuế tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn”.

Từ các tài liệu chứng cứ trên ã có ủ cơ sở ể khẳng ịnh việc bà B chưa giao ủ số tiền còn lại tương ương 03 chỉ vàng 24k là do một phần lỗi từ phía người bán ã chưa hoàn t t các thủ tục về gi y tờ nhà t ể cho bên mua tiến hành các thủ tục h p thức hóa trong quá trình xin c p gi y chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng t theo quy ịnh. Chính từ việc này dẫn ến việc bên mua ến nay vẫn chưa thanh toán số tiền n mua nhà còn thiếu cho bên bán.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị ơn bà B không ng ý trả giá trị tiền mua nhà còn thiếu là không có căn cứ. Tòa c p sơ thẩm ã ch p nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên ơn ng thời ghi nhận sự tự nguyện của nguyên ơn hoàn trả toàn bộ chi phí mà bị ơn ã bỏ ra ể thực hiện việc kê khai ăng ký c p gi y chứng nhận quyền sử dụng t là 327.000.000 ng (bao g m tiền nộp thuế và chi phí công sức i lại) mà bị ơn ã chi phí ể thực hiện việc kê khai ăng ký c p gi y chứng nhận là có căn cứ úng pháp luật.

Tuy nhiên, khi xét ề nghị của bị ơn về việc xem xét tính công sức tôn tạo, gìn giữ làm tăng giá trị quyền sử dụng t. Tòa c p sơ thẩm nhận ịnh:“…giá trị quyền sử dụng đất tăng lên là do biến động về giá, không phải do công sức, chi phí tôn tạo đất của bị đơn. Tuy nhiên, do bị đơn đã quản lý gìn giữ đất từ năm 1987 đến nay cần xem xét đến công sức gìn giữ tài sản của bị đơn .Hội đồng xét xử xác định tương đương 10% giá trị tài sản tranh chấp là phù hợp”…Th y, nhận ịnh này của c p sơ thẩm là chưa chính xác. Trong trường h p này cần phải xem xét ai là người ã trực tiếp làm cho giá trị t tăng lên. Xét th y, tại thời iểm mua bán nhà t thì phần iện tích nhà t này chưa ư c chuyển mục ích sử dụng, sau này phía bị ơn ã tiến hành các thủ tục chuyển mục ích sử dụng xin c p gi y chứng nhận quyền sử dụng t ở và ã ư c công nhận là t ở ô thị. Như vậy, có ủ cơ sở xác ịnh giá trị quyền sử dụng t tăng lên là hoàn toàn do công sức của phía bị ơn. Như ã phân tích nêu trên lỗi dẫn ến việc bị ơn chưa thanh toán xu t phát từ một phần lỗi của nguyên ơn. Do ó, ể ảm bảo quyền và l i ích h p pháp của bị ơn cần phải sửa án sơ thẩm về phần này, Hội ng xét xử phúc thẩm xác ịnh phía bị ơn ư c hưởng 50% giá trị do công sức tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng t trên phần diện tích t tranh ch p là phù h p. Nhưng trong quá trình giải quyết tại c p phúc thẩm phía nguyên ơn cho rằng nhà t trên có sự biến ộng về giá t tăng lên vì quận T nay ã là thành phố T. Do ó, phía nguyên ơn có yêu cầu ịnh giá lại. Xét, ây là tình tiết mới ể ảm bảo quyền và l i ích h p pháp của các bên ương sự theo úng quy ịnh của pháp luật thì việc ịnh giá này là cần thiết. Căn cứ Chứng thư thẩm ịnh giá do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thẩm ịnh giá Hoàng Quân thẩm ịnh xác ịnh quyền sử dụng t có giá trị là 52.139.138 ng/m2. Như vậy quyền sử dụng t nguyên ơn chuyển như ng là 360,3m2 có giá 18.785.731.000 ng, ¼ giá trị tài sản tương ương số tiền là 4.696.432.855 ng. Do ó, sau khi trừ 50% công sức gìn giữ, tôn tạo phát triển làm tăng giá trị quyền sử dụng t và số tiền 327.000.000 ng mà phía bà B ã chi phí cho việc chuyển mục ích sử dụng t và các khoản chi phí dịch vụ ăng ký c p gi y chứng nhận (do phía nguyên ơn tự nguyện hoàn trả cho bị ơn) thì phía bị ơn phải thanh toán cho nguyên ơn số tiền n mua bán nhà còn thiếu là: 2.021.216.000 ng. [3] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lâm Thị B là người trên 60 tuổi thuộc trường h p ư c miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ iểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 148, Điều 296, Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 2, Điều 4 Luật Người cao tuổi; Căn cứ iểm Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Ch p nhận một phần kháng cáo của bà Lâm Thị B, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 327/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H: 1. Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Châu A về việc “Tranh ch p h p ng mua bán nhà và chuyển như ng quyền sử dụng t” ối với bà Lâm Thị B; Công nhận h p ng mua bán nhà và chuyển như ng quyền sử dụng t do ông Đường Ngọc T và ông Lê Kim H, bà Lâm Thị B ký kết ngày 27/4/1987 có hiệu lực;

Bà Lâm Thị B có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Châu A, ông Đường Nguyễn Anh T và bà Đường Nguyễn Xuân T số tiền n mua bán nhà còn thiếu là 2.021.216.000 ng. (Hai tỷ không trăm hai mươi mốt triệu hai trăm mười sáu ngàn ng).

Kể từ ngày bên ư c thi hành án có ơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi su t ư c quy ịnh tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Châu A thuộc trường h p người cao tuổi nên ư c miễm án phí dân sự sơ thẩm ối với một phần yêu cầu không ư c ch p nhận.

Bà Lâm Thị B thuộc trường h p người cao tuổi nên ư c miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí xem xét, thẩm ịnh và ịnh giá tài sản: Nguyên ơn tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm ịnh, ịnh giá tài sản và ã nộp ủ.

3. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Lâm Thị B thuộc trường h p người cao tuổi nên ư c miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ