vanban.org

Bản án 73

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1}.Tuyên bố bị cáo Phan Thị M phạm tội " Môi giới mại dâm".

Xử phạt Phan Thị M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? {1}.Tuyên bố bị cáo Phan Thị M phạm tội " Môi giới mại dâm".
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 73/2019-HSST
Ngày 16.10.2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Loan Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Bá Kiên, ông Lê Khắc Thiện.

-Thư kí phiên tòa: có ông Vương Thanh Minh- Thư kí Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc: ông Nguyễn Chí Cường - Kiểm sát viên

Trong ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại Hội trường trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 65/2019/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Phan Thị M- Giới tính: Nữ. Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1981 tại Yên Thành, Nghệ An. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: xóm 16, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Họ tên bố: Phan Văn T; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V. Bị cáo có chồng là Đậu Ngọc A và 02 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2019 đến ngày 17/8/2019 thì được bảo lãnh tại ngoại. Có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1992

Trú tại: Xóm 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

- Chị Lê Thị P, sinh năm 1987

Trú tại: Bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An

- AnhTrần Văn Th, sinh năm 1981

Trú tại: Xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Phan Thị M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lúc 19 giờ ngày 07/8/2019, Nguyễn Công T và Trần Văn H đến quán Karaoke B ở xóm 16, xã N, huyện N do Phan Thị M làm chủ để hát Karaoke tại phòng số 2, tầng 1. M gọi Lô Thị L và Lê Thị P tên thường gọi là M1 là nhân viên của quán đi vào phòng ngồi hát karaoke cùng với T và H.

Trong lúc hát Karaoke, T xin số điện thoại của Lê Thị P và đến 21 giờ 30 phút cùng ngày thì T, H thanh toán tiền hát để ra về; T nói với Phan Thị M chủ quán “Xin chị cho con em nhân viên đi ngủ qua đêm với em được không”; M trả lời “Có gì ra ngoài biển quảng cáo ghi số chị rồi liên lạc lại sau". Về đến nhà T điện thoại cho Lê Thị P và nói “Em đồng ý ngủ qua đêm với anh không để anh xin chủ quán” và được P đồng ý. Lúc 23 giờ 30 phút cùng ngày T đã mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS biển số 34B1- 92xx của Trần Văn H và đi một mình đến quán Karaoke B gặp và đưa 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho Phan Thị M. M hỏi “Tiền gì đây”, thì T trả lời “Chị cứ cầm đi, cho em gặp con em lúc nãy cái”. Sau đó, M và T đi lên tầng 2 gặp Lê Thị P; T hỏi P có đi qua ngủ qua đêm không thì P trả lời là để xin chủ quán đã. P đi lại chỗ M và nói “Em đi ngủ qua đêm với anh này được không?”; M trả lời “Ừ, nếu đi để chị ra lấy tiền trước cho”, còn P đi vào phòng thay quần áo. Lúc này M đi vào phòng và hỏi P “Đi qua đêm bao nhiêu tiền”, P trả lời “Chị cầm cho em hai triệu đi”. M đi ra và nói với T “Nhân viên nói đi qua đêm hai triệu”. Sau khi trả giá không được, T đồng ý và đưa cho M số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Khi P đi ra thì M nói với P “Chị cầm tiền đây rồi, em đi đi” và hỏi khi nào về thì P trả lời “Mai về” rồi cùng T đi đến nhà nghỉ yy tại xóm 8, xã N, huyện N do anh Trần Văn Th làm chủ. Cả hai thuê phòng nghỉ số 01 và quan hệ tình dục với nhau. Đến khoảng 02 giờ, ngày 08/8/2019 tổ công tác Công an huyện Nghi Lộc kiểm tra hành chính phát hiện, lập biên bản đối với Nguyễn Công T và Lê Thị P về hành vi “Mua bán dâm”. Thu giữ trong phòng 01 bao cao su đã qua sử dụng, 03 bao cao su chưa qua sử dụng.

Sau khi biết Nguyễn Công T và Lê Thị P bị Công an bắt giữ về hành vi mua bán dâm, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên ngày 08/8/2019, Phan Thị M đã đến Công an huyện Nghi Lộc đầu thú khai báo hành vi môi giới mại dâm của mình, đồng thời giao nộp 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) là số tiền mà Nguyễn Công T đưa cho Phan Thị M để được mua dâm Lê Thị P.

Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKS-HS ngày 02.10.2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo Phan Thị M về tội " Môi giới mại dâm" theo khoản 1 điều 328 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 328; điểm s, i, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Phan Thị M 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án.

Về hình phạt phụ: Áp dụng khoản 4 Điều 328 bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo một khoản tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su đã sử dụng và 03 bao cao su chưa qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng thu giữ từ việc mua bán dâm do Phan Thị M giao nộp hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc.

Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thức ra sai phạm của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

{1.}Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

{2.}Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như nội dung của bản Cáo trạng: Ngày 7/8/2019, Phan Thị M đã có hành vi làm trung gian cho Nguyễn Công Tvà Lê Thị P là nhân viên quán hát do Phan Thị M quản lý thực hiện hành vi mua bán dâm và bị cơ quan chức năng phát hiện hành vi mua bán dâm tại nhà nghỉ do anh Trần Công Th làm chủ. Sau khi biết được sự việc, Phan Thị M đã đến Công an huyện Nghi Lộc đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội môi giới mại dâm của mình và giao nộp toàn bộ số tiền 2.500.000 đồng gồm 500.000 đồng là công môi giới 2.000.000 đồng tiền mua bán dâm.

Lời khai nhận đó phù hợp với lời khai và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận Phan Thị M đã thực hiện hành vi làm trung gian, môi giới trong việc mua bán dâm của Trần Công T và Lê Thị P. Tội trạng và hình phạt được quy định tại điều 328 bộ luật Hình sự năm 2015. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo về tội danh "Môi giới mại dâm" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

{3.} Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh lành mạnh và đạo đức xã hội.Tệ nạn mãi dâm đã gây ra bao bức xúc cho quần chúng nhân dân. Nó không chỉ làm băng hoại đạo đức, lối sống con người mà còn làm tan vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

{4.} Xét tính chất hành vi, nhân thân của bị cáo:

{4.1} Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

{4.2} Vể tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; Lần đầu phạm tội, nhân thân tốt- chưa có tiền án, tiền sự; Trong quá trình sinh sống, lao động tại địa phương đã có hành vi giúp cơ quan điều tra phát hiện, bắt giữ tội phạm; Sau khi phạm tội đã nhanh chóng ra đầu thú, giao nộp các khoản tiền thu lợi bất chính. Ngoài ra, bị cáo là nữ, lại đang nuôi dưỡng 2 con nhỏ.

Về hình phạt phụ: Tại khoản 4 Điều 328 bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội có thể còn bị phạt tiền một khoản từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do bị cáo có công việc, có thu nhập nên xét cần xử phạt bị cáo thêm một khoản tiền là 10.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Công T và Lê Thị P có hành vi mua bán dâm, Công an huyện Nghi Lộc đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Đối với Trần Văn Th là chủ nhà nghỉ không biết mục đích thuê phòng để mua bán dâm của Nguyễn Công T và Lê Thị P nên không có căn cứ để xử lý hình sự và đã được Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc ra Quyết định xử phạt hành chính theo thẩm quyền.

{5.} Về vật chứng: Áp dụng quy định của pháp luật để tịch thu tiêu hủy 04 bao cao su; sung ngân sách nước số tiền 2.500.000 đồng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc.

{6.} Các bị cáo có quyền kháng cáo và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

{1}.Tuyên bố bị cáo Phan Thị M phạm tội " Môi giới mại dâm".

+ Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 328; điểm s, i, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt Phan Thị M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng. (Mười triệu đồng).

{2}.Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cao su, 03 bao cao su hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo biên bản giao nhận ngày 08/10/2019; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng có trong tài khoản số 3949.0.1012759.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc tại kho bạc nhà nước huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An do công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nộp ngày 06/9/2019.

{3}.Về án phí: bị cáo 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ