vanban.org

Bản án 73/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Trần Huy H.

Về con chung: Giao cháu giao cháu Trần Huy Long - sinh ngày 17/8/2002 cho anh Trần Huy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Trần Long Vũ - sinh ngày 29/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn với anh Trần Huy H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Trần Huy H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26/11/2018
V/v: “Kiện xin ly hôn,
tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Huy Cảm

2. Ông Hoàng Văn Phiên

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26/11/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 226/2016/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 31/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/QĐST-DS ngày 16/11/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y - sinh năm 1981. Đăng ký HKTT: Số 517, đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nơi ở hiện nay: Tổ 34, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Trần Huy H - sinh năm 1974. Đăng ký HKTT: Số 517, đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị Thúy - sinh năm 1989. Địa chỉ: Số 453, đường Trần Đại Nghĩa, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Chị Đỗ Thị Đào - sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ 21, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Huy H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau từ năm 2001 nhưng đến năm 2006 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Từ năm 2008 cả hai vợ chồng chị chuyển lên thành phố Lào Cai sinh sống. Hai vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, anh Trần Huy H đã đánh chị nhiều lần, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người ở một nơi, không còn quan hệ gì cả về tình cảm. Nay chị Y xét thấy không còn tình cảm với anh H vì vậy chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Huy H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Trần Huy Long - sinh ngày 17/8/2002 và cháu Trần Long Vũ - sinh ngày 29/9/2012. Khi ly hôn chị Y có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Trần Long Vũ còn cháu Trần Huy Long do anh Trần Huy H nuôi dưỡng đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Huy H trình bày: Anh nhất trí lời khai chị Y về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có cãi nhau nhưng anh thấy mâu thuẫn gia đình chưa đến mức trầm trọng, hôn nhân vẫn có thể cứu vãn được. Nay chị Nguyễn Thị Y có đơn xin ly hôn với anh, anh H không đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Trần Huy Long - sinh ngày 17/8/2002 và cháu Trần Long Vũ - sinh ngày 29/9/2012. Anh Trần Huy H không nhất trí ly hôn nên không yêu cầu giải quyết việc giao nuôi con chung.

- Về tài sản: Anh Trần Huy H không nhất trí ly hôn nên không yêu cầu giải quyết việc chia tài sản.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; anh Trần Huy H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Trần Huy H; Về con chung: giao cháu Trần Huy Long - sinh ngày 17/8/2002 cho anh Trần Huy H nuôi dưỡng và giao cháu Trần Long Vũ - sinh ngày 29/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Y nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Chị Y và anh H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Y và anh Trần Huy H tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn nên chị Nguyễn Thị Y khởi kiện ly hôn và được nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Trần Huy H có hộ khẩu thường trú tại số nhà 517, đường Nhạc Sơn, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, khoản 2 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 209, Điều 210, Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự để hai bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án nhưng không thành do anh Trần Huy H không nhất trí ly hôn và từ chối ký vào các biên bản hòa giải tại Tòa án. Vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày 16/11/2018, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt do đó Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Ngày 26/11/2018 Tòa án tiếp tục mở phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 để tiếp tục tiến hành xét xử.

Xét quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Y và anh Trần Huy H chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2006 đúng quy định pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa, chị Y trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H đã nhiều lần đánh chị nhưng chị không đưa ra tổ dân phố để hòa giải vì chị ngại, sợ xấu hổ với hàng xóm, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng chị hiện nay đã sống ly thân, không còn quan hệ gì cả về tình cảm vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Chị Y có đề nghị Tòa án lấy lời khai của 02 người làm chứng là chị Nguyễn Thị Thúy và chị Đỗ Thị Đào, vì trong lần chị bị anh H đánh thời gian gần đây nhất có chị Thúy và chị Đào làm chứng cho chị. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2018, chị Nguyễn Thị Thúy khai chị có chứng kiến vào ngày 29/7/2018 sau khi chị và chị Y đi liên hoan về thì có nhìn thấy anh Trần Huy H đánh chị Y, một số lần khác chị gặp chị Y có những vết bầm tím trên người khi hỏi thì chị Y nói là bị chồng chị Y (anh H) đánh. Tại Biên bản lấy lời khai chị Đỗ Thị Đào ngày 25/9/2018, chị Đào khai vào ngày 15/7/2018 sau khi đi ăn sáng trên đường về nhà và đi trên xe ô tô của anh H chị Đào có nhìn thấy anh H có đánh chị Y vào mặt dẫn đến chảy máu, sự việc sau đó được vợ chồng chị Đào can ngăn nên anh H không đánh chị Y nữa. Qua xem xét lời khai của chị Y cũng như của những người làm chứng, Tòa xét thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Trần Huy H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y về việc xin ly hôn với anh Trần Huy H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Trần Huy Long - sinh ngày 17/8/2002 và cháu Trần Long Vũ - sinh ngày 29/9/2012. Hiện nay các cháu phát triển khỏe mạnh bình thường, Tòa xét thấy về điều kiện nuôi dưỡng các cháu thì chị Y và anh H cùng có thu nhập ổn định, đều có đủ điều kiện nuôi con chung như nhau nhưng xét thấy cháu Trần Long Vũ tuổi còn nhỏ, chị Y là người thường xuyên chăm sóc, đưa đón cháu đi học (có xác nhận của nhà trường nơi cháu Vũ theo học) vì vậy cần giao cháu Vũ cho chị Nguyễn Thị Y nuôi dưỡng. Đối với cháu Trần Huy Long, Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến về nguyện vọng của cháu, bản thân cháu mong muốn được sinh sống với bố (anh Trần Huy H) vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Trần Huy Long cho anh Trần Huy H nuôi dưỡng và giao cháu Trần Long Vũ cho chị Nguyễn Thị Y nuôi dưỡng đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Các bên không nuôi con có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Trần Huy H.

2. Về con chung: Giao cháu giao cháu Trần Huy Long - sinh ngày 17/8/2002 cho anh Trần Huy H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Trần Long Vũ - sinh ngày 29/9/2012 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trần Huy H và chị Nguyễn Thị Y có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AB/2012/0005445, ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Huy H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ