- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thany đổi quyền nuôi con"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn đối với cháu Phan Anh Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 04/9/2026. V/v: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Văn Hà, bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4-Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4- Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 214/2026-HNGĐ, ngày 11 tháng 05 năm 2026 về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/08/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn Đ. Sinh năm: 1998 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T (nay là thôn H), xã K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Yến N. Sinh năm: 1999 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn B (nay thôn H), xã K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Văn Đ trình bày:
Ông Phan Văn Đ và bà Nguyễn Thị Yến N trước đây là vợ chồng. Do hai bên có mâu thuẫn nên đã ly hôn và được toà án giải quyết cho ly hôn tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 197/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4-Đắk Lắk). Tại quyết định của Tòa án, hai bên đã thoả thuận, giao con chung là cháu Phan Anh Q, sinh ngày 21/10/2022 cho bà Nguyễn Thị Yến N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung bà Nguyễn Thị Yến N không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Tuy nhiên hiện nay bà N đã lập gia đình mới, đã có con chung và trong thời gian bà N trực tiếp nuôi con, bà N đã chăm sóc không tốt cháu Q nên đã để cho cháu bị mắc bệnh thận nên ông Đ đã đưa đi chữa trị tại bệnh viện N1 và chăm sóc từ ngày 31/3/2026 cho đến ngày 24/5/2026 thì bà N nhận lại chăm sóc cháu Q cho đến nay.
Nhận thấy bà N không còn đủ điều kiện để chăm sóc tốt về mọi mặt cho cháu Q. Vì vậy ông Đ đề nghị Toà án giải quyết thay đổi quyền nuôi con chung, để ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Anh Q.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Yến N trình bày:
Ông Phan Văn Đ và bà Nguyễn Thị Yến N đã thực hiện xong thủ tục ly hôn tại Toà án như ông Đ đã trình bày là đúng. Sau khi ly hôn cháu Phan Anh Q đã sống cùng bà N ổn định từ năm 2024. Một thời gian sau bà N đã kết hôn với người chồng khác và chung sống cùng chồng tại Thôn B xã K và hiện nay cháu Q đang chung sống cùng vợ chồng bà N. Trong quá trình nuôi con thì cháu Q vẫn được bà N chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đảm bảo cho cháu Q có cuộc sống ổn định, sinh hoạt và học hành bình thường và bảo đảm cho ông Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
Việc ông Đ cho rằng tôi chăm sóc không tốt để cháu Q bị bệnh là không đúng thực tế và không có cơ sở khoa học. Trên thực tế trong quá trình nuôi dưỡng bà N đã phát hiện ra bệnh tình của cháu và đã đưa đi điều trị, việc ông Đ đề nghị được đưa cháu vào Bệnh viện N2 để điều trị thì bà đồng ý vì sức khoẻ của con chung là quan trọng. Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng cháu Q bà N đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu vật chất, tinh thần cũng như yêu thương nhất mực cháu Q. Mặc dù hiện nay bà đã lập gia đình riêng và có 01 con nhỏ sinh ngày 26/4/2025 nhưng bà vẫn chăm sóc cháu Q bình thường như trước khi chưa tái hôn, thậm chí còn tốt hơn vì bà N được sự hổ trợ tích cực từ người chồng mới trong việc chăm sóc cháu Q.
Nhận thấy cháu Q đã sinh sống ổn định với tôi trong thời gian dài, việc học tập và sinh hoạt của cháu được đảm bảo. Tôi có nơi ở ổn định, có công việc, có thu nhập và có sự hổ trợ kinh tế của chồng mới, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo sự phát triển của cháu Q, quan trọng hơn là cháu Q còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, việc thay đổi môi trường sống của cháu trong thời gian này sẽ làm phát sinh tâm lý tiêu cực ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển bình thường của cháu Q.
Vì vậy, bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc; “thay đổi người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Phan Anh Q từ tôi sang cho ông Phan Văn Đ”.
Tại biên bản xác minh ngày 12 tháng 8 năm 2026 tại địa phương thấy rằng: Hiện nay cháu Phan Anh Q đang sinh sống cùng bà N tại địa phương. Trong quá trình sinh sống cùng bà N thì cháu Q được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng bình thường, không có thông tin về việc việc cháu Q bị ngược đãi, bạo hành gì.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Toà án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Toà án, HĐXX và người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Phan Anh Q.
- Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4- Đắk Lắk được quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Về nội dung:
Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của nguyên đơn ông Phan Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 197/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk hai bên đã thoả thuận, giao con chung là cháu Phan Anh Q, sinh ngày 21/10/2022 cho bà Nguyễn Thị Yến N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.
Sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị Yến N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q từ năm 2024 đến nay. Bà N trình bày sau khi ly hôn cháu Q sống ổn định cùng bà và được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo đảm các điều kiện về sinh hoạt, học tập và phát triển bình thường. Hiện nay bà N đã kết hôn với người khác và đang cùng chồng chăm sóc cháu Q; bà N có nơi ở ổn định, có công việc, có thu nhập và được chồng hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Mặc dù bà N đã có thêm một con nhỏ sinh ngày 26 tháng 4 năm 2025 nhưng bà N xác định vẫn trực tiếp chăm sóc cháu Q, bảo đảm các điều kiện về vật chất và tinh thần cho cháu.
Tại biên bản xác minh ngày 12 tháng 8 năm 2026 tại địa phương cũng thể hiện. Trong quá trình sinh sống cùng bà N thì cháu Q được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng bình thường, không có thông tin về việc việc cháu Q bị ngược đãi, bạo hành gì.
Xét lời khai của ông Đ cho rằng trong thời gian bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Q không tốt, để cháu mắc bệnh về thận nên ông Đ phải đưa cháu vào Bệnh viện N1 điều trị từ ngày 31 tháng 3 năm 2026 đến ngày 24 tháng 5 năm 2026. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Q có thời gian điều trị tại Bệnh viện N1 là đúng trên thực tế, tuy nhiên ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh tình trạng bệnh của cháu Q là hậu quả trực tiếp của việc bà N thiếu trách nhiệm hoặc không bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nên không có căn cứ để xác định bà N không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Mặt khác, cháu Phan Anh Q sinh ngày 21 tháng 10 năm 2022, hiện còn nhỏ và đã sinh sống ổn định với bà N trong thời gian từ sau khi ly hôn đến nay. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đồng thời làm thay đổi môi trường sống, sinh hoạt và sự chăm sóc hằng ngày của cháu. Trong khi đó, ông Đ chưa chứng minh được việc thay đổi người trực tiếp nuôi con vào thời điểm hiện nay sẽ đem lại lợi ích tốt hơn cho cháu Q so với việc tiếp tục để bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chỉ được đặt ra khi có căn cứ cho thấy người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Do đó, hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn đối với cháu Phan Anh Q như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về án phí: Ông Phan Văn Đ phải chịu 300.000đ tiền án phí Dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu của ông Đ không được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn đối với cháu Phan Anh Q.
2. Về án phí: Ông Phan Văn Đ phải chịu 300.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số 0004851 ngày 06/05/2026.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Phan Văn Đ, bị đơn bà Nguyễn Thị Yến N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND tỉnh Đắk lắk; - VKSND khu vực 4- Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 4; - Đương sự; - Lưu HS. | (Đã ký) Hoàng Long |