vanban.org

Bản án 73/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 15/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 2.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Toà Phúc Thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình Thanh phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 2.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST
Ngày: 15/9/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Lệ Thu Thẩm phán Nguyễn Thương Huyền Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Ninh, ông Bùi Văn Hồng, ông Lê Anh Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Vân Nga - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên. Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử - Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần - Trại tạm giam số 2-Công an Thành phố H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/HSST ngày 25/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Vũ Đình T; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; sinh ngày 27 tháng 3 năm 1988 tại: tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng); nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn P, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương (nay là thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Vũ Đình M, sinh năm 1960; con bà: Vũ Thị L, sinh năm 1962; trú tại thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng; vợ: Đỗ Thị N, sinh năm 1994; con: có 02 con; trú tại thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng; tiền án, tiền sự: không Nhân thân: - Ngày 11/11/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 27/6/2025, Viện KSND tỉnh H đã ban hành Cáo trạng số 64 truy tố bị can Vũ Đình T và đồng phạm ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) để xét xử theo thẩm quyền. Hiện vụ án chưa xét xử.

- Ngày 23/4/2025, bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H (theo Quyết định tạm giam số 301 ngày 21/7/2025 của Tòa án thành phố Hải Phòng). Có mặt tại điểm cầu thành phần. Người bị hại: 1. Anh Lê Văn M1, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, có măt. 2. Anh Hoàng Đức B, sinh 1977, địa chỉ: Thôn T, xã T tỉnh Hà Tĩnh, có vợ là chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. 3. Anh Phan Quang Đ, sinh 1982, địa chỉ: Thôn T, xã T tỉnh Hà Tĩnh, có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Vũ Quý C, sinh 1977, địa chỉ thôn T, xã Y, Thành phố Hải Phòng, hiện đang bị tạm giam tại trại giam S- Công an Thành phố H, có mặt tại điểm cầu thành phần. Người làm chứng: 1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1966, địa chỉ Xóm F xã P, Thành phố Hà Nội, vắng mặt. 2. Trần Văn T2, sinh 1982, địa chỉ số F, B56 TĐC, phường V, Thành phố Hà Nội, vắng mặt. 3. Lương Thị T3, sinh 1973, địa chỉ: Số N, Khu tái định cư, Phường V, Thành phố Hà Nội, vắng mặt. 4. Vũ Thái H, sinh 1986, địa chỉ: Khu T, phường Â, Tỉnh Phú Thọ, vắng mặt. 5. Đào Thị Chung T4, sinh 1982, địa chỉ: H T, Phường K, Thành phố Hà Nội, vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2020, Vũ Đình T thành lập Công ty TNHH D1, có địa chỉ tại thôn P, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương (nay là thôn P, xã K, thành phố Hải Phòng) do Vũ Đình T làm Giám đốc, nhưng công ty không được cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp phép hoạt động trong lĩnh vực đưa người đi xuất khẩu lao động ngoài nước, không có hợp đồng cung ứng theo sự chấp thuận của Cục Q ngoài nước, không thực hiện các hợp đồng liên kết với đơn vị có chức năng xuất khẩu lao động để thực hiện dịch vụ đưa người đi lao động ngoài nước. Năm 2024, anh Hoàng Đức B (sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nay là xã T, tỉnh Hà Tĩnh) có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nên gọi điện cho anh Vũ Quý C (sinh năm 1977, trú tại xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương nay là xã Y, thành phố Hải Phòng, là người đã từng đi xuất khẩu lao động với B tại Ả Rập X) nhờ anh C liên hệ tìm người đưa đi xuất khẩu lao động. Do quen biết Vũ Đình T và nghĩ T có thể đưa người đi xuất khẩu lao động được nên khi được anh Hoàng Đức B nhờ liên hệ thì anh Vũ Quý C đã gọi điện hỏi T. Thời điểm này, Vũ Đình T đang vay nợ của nhiều người và cần tiền để trả nợ nên khi nghe anh Vũ Quý C hỏi thì T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người xin đi xuất khẩu lao động nên đã đưa ra thông tin gian dối là xin được Visa Ú cho người lao động và hiện T đang cần tìm 4 đến 5 người sang làm xây dựng tại Úc, mức lương từ 60 - 80 triệu đồng/tháng, chi phí để đi Úc hết khoảng 500.000.000 đồng, người lao động phải nộp trước 03 đợt với số tiền 250.000.000 đồng, số còn lại sau khi sang Úc lao động sẽ được trừ dần vào lương và cam kết ngày 17/4/2024 sẽ xuất cảnh sang Úc nhằm chiếm đoạt tiền của họ. Sau khi nghe Vũ Đình T trao đổi, ngày 27/02/2024, anh Vũ Quý C trực tiếp vào Hà Tĩnh gặp anh Hoàng Đức B và nói anh B gọi một số người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Úc để C trao đổi thông tin liên quan nên anh B đã gọi anh Lê Văn M1 và anh Phan Quang Đ trú cùng xã đến gặp Vũ Quý C. Tại đây, Vũ Quý C nói lại nội dung Vũ Đình T đã trao đổi là đang cần 4 đến 5 người đi xuất khẩu lao động tại Úc, làm nghề xây dựng, mức lương từ 60-80 triệu đồng/tháng, chi phí hết khoảng 500.000.000 đồng, người lao động phải nộp trước 03 đợt với số tiền 250.000.000 đồng, số còn lại sau khi sang Úc lao động sẽ được trừ dần vào lương. Đồng thời, Vũ Quý C nói với anh M1, anh B và anh Đ cung cấp căn cước công dân, hộ chiếu, giấy đăng ký kết hôn, ảnh… để làm hồ sơ và hẹn đến ngày 17/4/2024 sẽ xuất cảnh sang Úc lao động. Đến ngày 28/02/2024, Vũ Đình T thông báo với Vũ Quý C về việc yêu cầu người xin đi xuất khẩu lao động nộp 50.000.000 đồng/người tiền đặt cọc nên C gọi điện thoại nói anh Lê Văn M1, anh Phan Quang Đ và anh Hoàng Đức B chuyển 50.000.000 đồng tiền đặt cọc vào tài khoản ngân hàng S1 và ngân hàng M2 số 2700118207008 của Vũ Quý C. Do tin tưởng nên anh Đ đưa 30.000.000 đồng và anh M1 đưa 50.000.000 đồng tiền mặt cho chị Nguyễn Thị N1 (vợ anh Lê Văn M1) để chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng M2 số 2700118207008 của Vũ Quý C; anh B sử dụng tài khoản ngân hàng A số 5200111434 của chị Nguyễn Thị T1 (vợ anh B) chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng S1 số 0972976339 của Vũ Quý C. Sau khi nhận 130.000.000 đồng của 3 người lao động, Vũ Quý C đã chuyển hết vào tài khoản ngân hàng T5 số 9928800888 mang tên Vũ Đình T để T làm thủ tục cho 03 người đi xuất khẩu lao động, nhưng Vũ Đình T đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 15/3/2024, Vũ Đình T thông báo với Vũ Quý C yêu cầu mỗi người lao động nộp thêm 170.000.000 đồng để làm thủ lăn tay, cấp visa nên Vũ Quý C gọi điện thoại nói anh Lê Văn M1, anh Hoàng Đức B và anh Phan Quang Đ nộp 170.000.000 đồng/người để làm thủ tục lăn tay, cấp visa. Trong ngày 15 và 16/3/2024, anh Lê Văn M1 chuyển 170.000.000 đồng, anh Hoàng Đức B chuyển 170.000.000 đồng và anh Phan Quang Đ chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M2 số 2700118207008 của Vũ Quý C. Sau khi nhận 490.000.000đồng của 03 người lao động, Vũ Quý C đã chuyển số tiền 450.000.000đồng vào tài khoản ngân hàng T5 số 9928800888 của Vũ Đình T và trực tiếp đưa cho T 40.000.000 đồng tiền mặt tại khu đô thị V, quận L, thành phố Hà Nội. Sau đó, Vũ Đình T không sử dụng để làm thủ tục cho 03 người đi xuất khẩu lao động như đã hứa hẹn mà sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Để anh Lê Văn M1, Hoàng Đức B, Phan Quang Đ và Vũ Quý C tin tưởng là mình đang làm thủ tục cho 03 người đi xuất khẩu lao động nên Vũ Đình T lên mạng đăng nhập thông tin làm hồ sơ xin lịch lăn tay cấp visa tại Đại sứ quán Ú với chi phí 500.000 đồng/người. Sau đó, Đại sứ quán Ú1 có thư mời nên ngày 25/3/2024, anh Lê Văn M1, Phan Quang Đ, Hoàng Đức B đến số H phố Đ, phường N, thành phố Hà Nội để làm thủ tục cấp visa và gặp Vũ Đình T hướng dẫn đi lăn tay, chụp ảnh tại Đại sứ quán Úc. Để người lao động thêm tin tưởng và tiếp tục chuyển tiền nên ngày 03/5/2024, Vũ Đình T gửi hình ảnh đặt chỗ máy bay có thông tin của anh Lê Văn M1, anh Phan Quang Đ và anh Hoàng Đức B khởi hành tại thành phố Hồ Chí Minh đến M - Terminal2 cho Vũ Quý C để C gửi cho anh M1, anh B và anh Đ. Đồng thời, T trao đổi với C yêu cầu anh Lê Văn M1, Phan Quang Đ và Hoàng Đức B nộp thêm 70.000.000 đồng/người. Tuy nhiên, thời điểm này, anh M1, anh B và anh Đ chưa có visa, chưa học ngoại ngữ, chưa khám sức khỏe nên nghi ngờ bị lừa nên không chuyển tiền và đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu Vũ Quý C trả lại tiền thì C nói với họ là sau khi nhận tiền thì C đã chuyển toàn bộ số tiền đó cho Vũ Đình T để T làm hồ sơ, thủ tục đi xuất khẩu lao động và C cung cấp số điện thoại, địa chỉ nhà của T để người lao động liên lạc với Vũ Đình T. Đồng thời, Vũ Quý C tạo nhóm zalo “ÚC- HÀ TĨNH” trong nhóm có anh M1, anh B, anh Đ, Vũ Quý C và Vũ Đình T để người lao động trao đổi, yêu cầu Vũ Đình T trả lại tiền, nhưng T không có khả năng để trả lại tiền. Đến ngày 03/7/2024, anh Lê Văn M1, Hoàng Đức B và Phan Quang Đ đến Khu đô thị V, đường N, thành phố Hà Nội gặp Vũ Đình T để yêu cầu trả lại tiền. Tại đây, Vũ Đình T viết giấy nhận nợ với tổng số tiền 620.000.000 đồng và cam kết ngày 24/7/2024 sẽ chuyển trả hết tiền cho bị hại, nhưng đến hẹn T vẫn không trả tiền. Như vây, Vũ Đình T đã đưa ra thông tin, thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 620.000.000 đồng của 03 người bị hại (gồm anh Lê Văn M1 số tiền 220.000.000 đồng, anh Hoàng Đức B số tiền 220.000.000 đồng và anh Phan Quang Đ số tiền 180.000.000 đồng) để chi tiêu cá nhân và không có khả năng trả lại tiền cho các bị hại.

- Bản Kết luận giám định số 741/KL-KTHS, ngày 13/6/2025, của Phòng K, Công an tỉnh H kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Vũ Đình T trên mẫu tài liệu “Bản cam kết” là do bị can Vũ Đình T viết và ký ra.

- Vật chứng thu giữ và đưa vào hồ sơ vụ án: 01 bản cam kết do Vũ Đình T viết tay, có nội dung: cam kết trong vòng 20 ngày, từ ngày 4/7/2024 đến ngày 24/7/2024, T sẽ thanh toán hết toàn bộ số tiền cho người bị hại. Với hành vi trên, Cáo trạng số 66/CT-VKS-P2 ngày 15/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Đình T mức án từ 12 - 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng các Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Vũ Đình T phải bồi thường tổng số tiền 620.000.000đồng cho những người bị hại gồm anh Phan Quang Đ số tiền 180.000.000 đồng; của anh Lê Văn M1 số tiền 220.000.000 đồng; của anh Hoàng Đức B 220.000.000 đồng. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN [1]. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân nên khi được Vũ Quý C gọi điện thoại hỏi về việc đưa người đi xuất khẩu lao động thì Vũ Đình T đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của người lao động. Trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5/2024, Vũ Đình T đã thông qua Vũ Quý C nhận hồ sơ, tiền của 03 người lao động trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh để chiếm đoạt tổng số tiền 620.000.000 đồng, gồm anh Lê Văn M1 với số tiền 220.000.000 đồng, anh Hoàng Đức B với số tiền 220.000.000 đồng và anh Phan Quang Đ với số tiền 180.000.000 đồng. Đến nay Vũ Đình T chưa trả lại tiền cho các bị hại. Xét hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân được nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thực hiện hành vi phạm tội với nhiều người, nhiều lần trong điều kiện sức khỏe bình thường, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, có đủ căn cứ khẳng định cáo trạng Cáo trạng số 66/CT-VKS-P2 ngày 15/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 BLHS Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo trong thời gian dài mới tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội. [4]. Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo chiếm đoạt của 3 người bị hại Lê Văn M1, Phan Quang Đ, Hoàng Đức B đến nay chưa bồi thường cho các bị hại, vì vậy, buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Văn M1 số tiền 220.000.000 đồng, anh Hoàng Đức B số tiền 220.000.000 đồng và anh Phan Quang Đ số tiền 180.000.000 đồng [5]. Đối với những hành vi và những người có liên quan trong vụ án: + Anh Vũ Quý C là người được anh Hoàng Đức B nhờ hỏi và liên hệ với Vũ Đình T để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Úc. Sau khi nhận thông tin từ Vũ Đình T, anh C đã trực tiếp nhận hồ sơ và tiền chi phí từ anh Lê Văn M1, anh Hoàng Đức B và anh Phan Quang Đ rồi chuyển cho Vũ Đình T. Thông tin anh C nói với anh M1, anh B và anh Đ xuất phát từ thông tin do Vũ Đình T nói với C; bản thân anh C tin tưởng T có thể làm được hồ sơ đưa người đi xuất khẩu lao động tại Úc và hoàn toàn không biết việc T đưa ra các thông tin, thủ đoạn gian dối để lừa dối anh C và người lao động nhằm chiếm đoạt tiền của họ. Sau khi nhận tiền chi phí của người lao động, anh C đã chuyển toàn bộ cho Vũ Đình T; bản thân anh C không được hưởng lợi và không có hành vi chiếm đoạt tiền của người lao động nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với anh Vũ Quý C. + Đối với anh Nguyễn Văn D, chị Lương Thị T3, anh Trần Văn T2, anh Vũ Thái H và chị Đào Thị Chung T4 đã nhận tiền từ Vũ Đình T, nhưng họ không biết số tiền T chuyển để trả nợ là tiền do T lừa đảo chiếm đoạt mà có nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với những người này. [6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 BLHS: Xử phạt bị cáo Vũ Đình T mức hình phạt 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. 3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Vũ Đình T bồi thường cho anh Lê Văn M1 số tiền 220.000.000 đồng, anh Hoàng Đức B số tiền 220.000.000 đồng và anh Phan Quang Đ số tiền 180.000.000 đồng. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 28.800.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án mà gia đình bị đơn không chịu thi hành án hoặc chậm thi hành án thì phải trả lãi suất phát sinh theo quy định tại điều 468 đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà Phúc Thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND Tối cao tại Hà Nội;

Trương Thị Lệ Thu

- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;

- PC04, PC10 Công an tỉnh Hà Tĩnh;

- Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;

- Trại tạm giam Công an Tp Hải Phòng 2;

- Bị cáo; bị hại, NLQ

- Lưu Hồ sơ, VT.

Cỡ chữ