vanban.org

Bản án 73/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 01/8/2025. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 199 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST
Ngày 30- 9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Kim Oanh, bà Trần Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 12/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST- HS ngày 19/9/2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn Đ, sinh ngày: 27/01/1994 tại M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hoàng Văn X và bà Bùi Thị Q; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không.

- Tiền sự: Quyết định số 59/QĐ-TA ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn Đ với thời hạn 24 tháng (Chưa được xóa tiền sự) và đang trong thời hạn quản lý sau cai theo Quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 11/4/2025 Ủy ban nhân dân phường M (nay là UBND phường M) với thời gian từ ngày 11/4/2025 đến ngày 11/4/2027.

- Nhân thân: Bản án số 121/2016/HSST ngày 22/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện M (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La) xử phạt Hoàng Văn Đ 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2025 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 01/8/2025, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Hoàng Văn Đ là đối tượng đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 55/QĐ-UBND ngày 11/4/2025 của Ủy ban nhân dân phường M (nay là UBND phường M), thời hạn từ ngày 11/4/2025 đến ngày 11/4/2027. Kết quả Hoàng Văn Đ dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine. Xét thấy có dấu hiệu tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, Trạm y tế phường M và người chứng kiến tiến hành test ma tuý lần 2 kết quả Hoàng Văn Đ dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine nên đã tổ chức thu mẫu nước tiểu của Hoàng Văn Đ, mẫu có ký hiệu Đ1 gửi giám định chất ma túy và lập biên bản sự việc để điều tra xử lý.

Tại Kết luận giám định số: 565/832/25/KLGĐĐC-PYGQ ngày 05/8/2025 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: “Mẫu ký hiệu Đ1 thu ngày 01/8/2025 của Hoàng Văn Đ gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine. *Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Không tìm thấy các chất ma túy khác.”.

Quá trình điều tra Hoàng Văn Đ khai nhận: Bản thân nghiện chất ma tuý và đang trong quá trình quản lý sau cai nghiện ma túy của Ủy ban nhân dân phường M. Khoảng 09 giờ ngày 30/7/2025, Đ đi đến khu vực đường dân sinh thuộc bản H, xã L, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi Đ gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không quen biết, qua trao đổi Đ đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 viên ma túy hồng phiến với giá 50.000 đồng. Đ đi vào bụi cây ven đường lấy 01 viên hồng phiến vừa mua được ra sử dụng bằng cách đốt hít khói vào cơ thể, vứt dụng cụ tại chỗ rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 18 giờ 45 phút ngày 01/8/2025, khi Đ đang ở nhà thì Công an phường M mời về trụ sở để tiến hành test ma tuý và phát hiện Hoàng Văn Đ dương tính với ma túy trong mẫu nước tiểu.

Ngày 26/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành xác định hiện trường nơi Hoàng Văn Đ sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời cho Hoàng Văn Đ mô tả, thực hiện lại hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 30/7/2025, kết quả mô tả, thực hiện lại phù hợp với lời khai của Hoàng Văn Đ tại Cơ quan điều tra.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT- VKS ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) xử phạt Hoàng Văn Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: Sử trái phép chất ma túy.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Hoàng Văn Đ.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản kiểm tra chất ma túy, biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định độc chất; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Văn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 11/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn Đ với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 59/QĐ-TA. Ngày 11/4/2025 Ủy ban nhân dân phường M (nay là UBND phường M) ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 55/QĐ-UBND đối với Hoàng Văn Đ, với thời gian quản lý từ ngày 11/4/2025 đến ngày 11/4/2027. Xét thấy, Hoàng Văn Đ là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy nhưng do thèm ma túy, ngày 30/7/2025 Hoàng Văn Đ đã đi mua ma túy của một người không quen biết tại khu vực đường dân sinh thuộc bản H, xã L, tỉnh Sơn La để sử dụng. Đến ngày 01/8/2025, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Hoàng Văn Đ, kết quả có tìm thấy Methamphetamin trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn Đ theo Kết luận giám định độc chất số 565/832/25/KLGĐĐC-PYGQ ngày 05/8/2025 của Viện Pháp y Quốc gia.

Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Hoàng Văn Đ không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy, đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với chiếc bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc, do Đại không nhớ rõ vị trí đã vứt chiếc bật lửa và mảnh giấy bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không thu giữ được.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Hoàng Văn Đ. Xét thấy, đây là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Văn Đ, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xác minh.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 01/8/2025.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Hoàng Văn Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ