vanban.org

Bản án 73/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

11 của Luật Hôn và nhân gia đình năm 2000; Điều 131, 56, 58, 81, 82, 83, 84

của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRAN THI HOAI PH"
  • Tòa quyết gì? 11 của Luật Hôn và nhân gia đình năm 2000; Điều 131, 56, 58, 81, 82, 83, 84
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn và nhân gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18-6-2025
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Nghĩa

Bà Nguyễn Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 823/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/11/2024 về ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoài P, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trần Hưng H, sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2024, trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Trần Thị Hoài P trình bày: Vào năm 2010, chị và anh Trần Hưng H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau. Anh H không quan tâm đến vợ con, thường xuyên chửi bới, đánh đập chị. Anh chị không còn sống chung với nhau từ tháng 7/2024 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh H, do đó yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Hùng M, sinh ngày 21/8/2011. Hiện nay con chung đang sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình làm việc bị đơn anh Trần Hưng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc:

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P, chị P được ly hôn với anh H; Về con chung: Giao con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết; Tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Trần Thị Hoài P có đơn khởi kiện ly hôn với anh Trần Hưng H, do đó xác định chị P là nguyên đơn, anh H là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Hoài P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Trần Hưng H đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị P, anh H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hoài P và anh Trần Hưng H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. 2

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị P cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn

của vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng

hay cãi nhau. Cuộc sống chung vợ chồng anh chị không hạnh phúc. Anh chị

không còn sống chung với nhau từ tháng 7/2024 cho đến nay. Anh H đã được

triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, anh H biết việc ly hôn nhưng vẫn vắng

mặt không lý do, cho thấy anh H không có thiện chí trong việc hòa giải đoàn tụ

vợ chồng. Hơn nữa, theo kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh chị tại

địa phương cho thấy hiện nay anh H có đăng kí thường trú tại địa phương, tuy

nhiên anh chị không còn sống chung với nhau. Như vậy, chứng tỏ trong cuộc

sống hôn nhân giữa chị P và anh H đã xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, anh chị bỏ

mặc không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không còn

thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định pháp luật, làm cho hôn

nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó

chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Hoài P là phù hợp với quy định tại

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị P yêu cầu nuôi con chung khi ly hôn, anh H vắng mặt

không có lời khai, nên không thể hiện nguyện vọng về con chung. Xét thấy, hiện

nay con chung chung đang do chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chị P vẫn nuôi con

đảm bảo, con chung có nguyện vọng được sống với mẹ, do đó tiếp tục giao con

chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều

81 Luật hôn nhân và gia đình .

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xét, anh H vắng mặt nên không có lời trình bày, nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phương trình B không có, anh H không có lời khai, nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Phương trình B không có, anh H không có lời khai, nên không giải quyết.

Về án phí: Chị P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận . Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9,

11 của Luật Hôn và nhân gia đình năm 2000; Điều 131, 56, 58, 81, 82, 83, 84

của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hoài P ly hôn anh Trần Hưng H

3

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Hùng M, sinh ngày 21/8/2011 cho chị Trần Thị Hoài P trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Hoài P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0026284 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

Chị Trần Thị Hoài P, anh Trần Hưng H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ