vanban.org

Bản án 73/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P có đại diện theo ủy quyền là chị Phan Nguyễn Kiều K.

Buộc anh Nguyễn Minh H có nghĩa vụ trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P số tiền giá trị xe mô tô hiệu Suzuki, màu đen đỏ, biển kiểm soát 63P1-478.12 số tiền là 7.000.000đ và số tiền thuê xe là 6.160.000đ, tổng cộng anh H có nghĩa vụ trả 13.160.000đ. Ghi nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Công ty mua bán xe A P - Nguyễn Minh H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P có đại diện theo ủy quyền là chị Phan Nguyễn Kiều K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/DS-ST.
Ngày: 12/5/2025.
V/v: Tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản; Hợp đồng thuê tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Huỳnh Văn Hoàn;

2/ Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản; Hợp đồng thuê tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐST-DS, ngày 14/4/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P.

Địa diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H – Giám đốc.

Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 05/12/2024): Chị Phan Nguyễn Kiều K, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang. (có đơn xin vắng mặt)

* Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 2001. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P, có đại diện theo ủy quyền chị Phan Nguyễn Kiều K trình bày:

Ngày 30/5/2024 Công ty A P và anh Nguyễn Minh H có ký văn bản thỏa thuận mua bán xe mô tô hiệu Suzuki biển số 63P1-478.12 với số tiền 7.000.000đ, công ty đã giao đủ tiền cho anh H, vì biết anh H có nhu cầu thuê lại xe nên giữa công ty và anh H đã thõa thuận nội dung công ty cho anh H thuê lại xe nêu trên với giá 560.000đ/tháng, thời gian 03 tháng từ 30/5/2024 đến 30/8/2024, phương thức thanh toán tiền thuê theo từng tháng thanh toán 01 lần. Thế nhưng từ lúc thuê đến nay anh H chưa thanh toán tiền thuê cho công ty, cũng như không thực hiện việc giao trả xe cho công ty. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc anh Nguyễn Minh H trả lại cho Công ty TNHH mua bán xe A P giá trị xe mô tô hiệu Suzuki biển số 63P1-478.12 là 7.000.000đ và số tiền thuê xe tính từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/5/2025 là 6.160.000đ, yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Sau khi anh H trả đủ tiền xe và tiền thuê xe thì công ty đồng ý trả lại cho anh H bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nêu trên.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh H: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không trình bày ý kiến bằng văn bản thể hiện ý kiến của anh H đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P (sau đây gọi là “công ty”), có đại diện theo ủy quyền là chị Phan Nguyễn Kiều K có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đại diện ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản; Hợp đồng thuê tài sản” theo quy định tại Điều 430, 472 của Bộ luật dân sự; Bị đơn có nơi cư trú tại Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Minh H trả lại cho Công ty TNHH mua bán xe A P số tiền giá trị mua bán xe mô tô hiệu Suzuki, màu đen đỏ, biển kiểm soát 63P1-478.12 là 7.000.000đ và số tiền thuê xe tính từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/5/2025 là 6.160.000đ, yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Sau khi anh H trả xong số tiền thuê xe, tiền giá trị xe, công ty đồng ý giao trả anh H bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nêu trên.

Xét thấy, ngày 30/5/2024 công ty có lập hợp đồng mua bán xe với anh Nguyễn Minh H xe mô tô hiệu Suzuki, màu đen đỏ, biển kiểm soát 63P1-478.12 do anh H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe với giá 7.000.000đ, công ty đã giao đủ số tiền mua bán xe cho anh H. Do anh H có nhu cầu cần xe để đi lại nên giữa công ty và anh H tiếp tục thỏa thuận thuê xe trên với giá 560.000đ/tháng, thời gian thuê từ ngày 30/5/2024 đến ngày 30/8/2024, thời gian thanh toán tiền thuê xe tính từ ngày bắt đầu thuê xe là 30 ngày/01 lần. Tuy nhiên, sau khi thuê xe anh H không trả tiền thuê xe cho công ty, hết hạn thuê xe anh H cũng không trả lại xe như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Thấy rằng, căn cứ bản chính của thỏa thuận (về việc mua bán, cho thuê và mua lại xe) số 30/05/AP, ngày 30/5/2024 do công ty cung cấp, có đủ cơ sở xác định giao dịch mua bán và thuê xe mô tô giữa công ty với anh H thực tế có phát sinh. Phía công ty đã thực hiện đúng theo thỏa thuận là giao tiền mua bán xe và giao xe cho thuê cho anh H. Thế nhưng phía anh H đã không thực hiện đúng thỏa thuận trên cụ thể là không trả tiền thuê xe, cũng như không giao trả lại xe mô tô nêu trên cho công ty là anh H đã vi phạm khoản 2 Điều 7 của thỏa thuận ngày 30/5/2024.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp thể hiện rõ yêu cầu của công ty đối với anh H. Tuy nhiên anh H không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của công ty, nên mặc nhiên anh H đã thừa nhận nghĩa vụ của bà đối với công ty và đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những nhận định và phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu anh Nguyễn Minh H có nghĩa vụ hoàn trả tiền giá trị mua bán xe mô tô hiệu Suzuki, màu đen đỏ, biển kiểm soát 63P1-478.12 số tiền là 7.000.000đ và số tiền thuê xe mô tô thời gian thuê từ 30/5/2024 đến 05/5/2025 (hơn 11 tháng) là 6.160.000đ, tổng cộng yêu cầu anh H có nghĩa vụ trả cho công ty là 13.160.000đ là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 430, 468, 472 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P có đại diện theo ủy quyền là chị Phan Nguyễn Kiều K.

Buộc anh Nguyễn Minh H có nghĩa vụ trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P số tiền giá trị xe mô tô hiệu Suzuki, màu đen đỏ, biển kiểm soát 63P1-478.12 số tiền là 7.000.000đ và số tiền thuê xe là 6.160.000đ, tổng cộng anh H có nghĩa vụ trả 13.160.000đ.

Ghi nhận Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P tự nguyện hoàn trả bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy có số 63 006038 do Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp cho anh Nguyễn Minh H ngày 05/01/2022. Thực hiện việc trả tiền, trả bản chính giấy chứng nhận đăng ký ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P có yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Minh H chậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí: Anh Nguyễn Minh H phải chịu 658.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002882, ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

3/ Về quyền kháng cáo: Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán xe A P và anh Nguyễn Minh H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ