vanban.org

Bản án 73/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 26/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điểu 3; khoản 1 Điều 585 và các Điều 586; 589 của Bộ luật dân sự, Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Ph, người bị hại chị Y Thy và người liên quan anh Nh về việc bồi thường dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Ph có trách nhiệm b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 73/2024/HS-ST
Ngày: 26 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Păng Ting Nôck

+ Bà Đỗ Thị Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST - HS ngày 13/3/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tấn Ph, sinh năm: 1998, tại: C Th; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 131B3 Khu vực 8, Phường Hưng Phú, Quận C R, Thành phố C Th; nơi cư trú: Số 07 N T L, Phường 8, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1970 và bà: Đào Thị Ngọc Ph, sinh năm: 1975; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án: Tại bản án số 116/2020/HSST ngày 12/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang đã xử phạt Nguyễn Tấn Ph 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2021, nhưng chưa thi hành khoản tiền án phí; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 26/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

- Người bị hại: Chị Y Th; sinh năm: 1999; địa chỉ: Số 191 BT X, Phường 8, thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Văn Nh, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số 191 BT X, Phường 2, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Bị cáo, người bị hại và người liên quan đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn Ph có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Sau khi ra tù Ph đi làm thuê nhiều nơi, tháng 01/2023 Ph đến làm thuê ở tiệm cầm đồ tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện G L, thành phố H N thì có anh Bùi Bá Khởi, sinh ngày 14/8/2001; nơi thường trú: An Hạ, An Thượng, H Đ, thành phố H N tới cầm điện thoại và để lại căn cước nên Ph dùng điện thoại chụp lại căn cước gửi cho chủ tiệm cầm đồ và lưu giữ trong điện thoại nên Ph nhớ được thông tin cá nhân của anh Khởi. Đến tháng 01/2023, Ph nghỉ việc và đến thành phố ĐL tìm việc làm.

Vào ngày 23/8/2023, Ph đến khách sạn “K C” ở địa chỉ: Số 191 BT X, Phường 8, thành phố ĐL do anh Phan Văn Nh làm chủ, tự giới thiệu mình tên Bùi Bá Khởi và xin vào làm lễ tân, phục vụ buồng phòng thì được anh Nh đồng ý. Cùng làm việc với Ph còn có chị Y Th là quản lý khách sạn. Quá trình làm việc tại khách sạn “K C”, Ph cần tiền để trả tiền thuê phòng trọ và tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của khách sạn để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng 11 giờ 10 phút ngày 23/8/2023, Ph theo dõi chị Y Th mở tủ của khách sạn được khoá bằng ổ khoá có mật khẩu và ghi nhớ mật khẩu là 986. Khoảng 15 phút sau, chị Y Th đi chợ, không có ai trông coi tài sản nên Ph dùng tay bấm mật khẩu 986 mở khóa tủ và lấy toàn bộ số tiền bên trong, cất giấu vào túi áo khoác. Sau đó Ph bỏ về phòng trọ kiểm tra số tiền trộm cắp được là 12.800.000 đồng (mười hai triệu tám trăm ngàn đồng). Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Ph đến cửa hàng điện thoại ở số A3 đường Mạc Đỉnh Chi, Phường 4, TP. ĐL gặp nhân viên bán hàng là anh Lê Văn Thuật dùng số tiền trộm cắp được mua của anh Thuật 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím loại 64GB hết 8.200.000 đồng (tám triệu hai trăm ngàn đồng), dùng 1.500.000 đồng trả tiền phòng trọ, số tiền còn lại Ph đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi Ph hiện bị mất tài sản, chị Y Th đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an, đến ngày 25/8/2023, Ph bị lực lượng Công an Ph hiện, mời về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, đồng thời Ph khai báo gian dối về nhân thân, lai lịch của mình là Bùi Bá Khởi, sinh năm: 14/8/2001; nơi thường trú: An Hạ, An Thượng, H Đ, TP H N nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự. (BL:18-21,28-36,37-58,64-68,81,92-96).

* Tang vật vụ án: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím loại 64GB, số IMEI 1: 353984100945623, số IMEI 2: 353984100900529 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng).

*Bị hại: Chị Y Th, sinh năm: 1999, trú tại: Ngọk Bay, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, nơi ở hiện nay: số 191 BT X, Phường 8, thành phố ĐL, tỉnh LĐ, bị chiếm đoạt số tiền 12.800.000 đồng. Anh Phan Văn Nh đã bồi thường cho chị Y Th số tiền trên, chị Y Th không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan: Anh Phan Văn Nh, sinh năm 1986, nơi thường trú: 90/38/8 đường số 50, Phường X, Quận GV, thành phố Hồ Chí Minh. Anh Nh yêu cầu Ph phải bồi thường số tiền 12.800.000 đồng mà anh Nh đã bồi thường cho chị Y Th.

Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSĐL-LĐ ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, cáo Nguyễn Tấn Ph khai nhận, khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 23/08/2023, tại khách sạn K C ở địa chỉ 191 BT X, Phường 8, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ, Nguyễn Tấn Ph đã thực hiện hành vi trộm cắp 12.800.000 đồng của chị Y Th là nhân viên quản lý khách sạn, mục đích để tiêu xài cá nhân như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc kH nại gì đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Ph về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Ph từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím là tài sản có được do nguồn tiền phạm tội mà có.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người liên quan Phan Văn Nh số tiền 12.800.000đ (mười hai triệu tám trăm ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tấn Ph: Vào ngày 23/8/2023, Ph đến khách sạn “K C” ở địa chỉ: Số 191 BT X, Phường 8, thành phố ĐL do anh Phan Văn Nh làm chủ, tự giới thiệu mình tên Bùi Bá Khởi và xin vào làm lễ tân, phục vụ buồng phòng thì được anh Nh đồng ý. Cùng làm việc với Ph còn có chị Y Th là quản lý khách sạn. Quá trình làm việc tại khách sạn “K C”, Ph nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của Khách sạn để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 11 giờ 10 phút 00 ngày 23/8/2023, Ph theo dõi chị Y Th mở tủ của khách sạn được khoá bằng ổ khoá có mật khẩu và ghi nhớ mật khẩu là 986. Khoảng 15 phút sau, chị Y Th đi chợ, không có ai trông coi tài sản nên Ph dùng tay bấm mật khẩu 986 mở khóa tủ và lấy toàn bộ số tiền bên trong, cất giấu vào túi áo khoác. Sau đó Ph bỏ về phòng trọ kiểm tra số tiền trộm cắp được là 12.800.000 đồng (mười hai triệu tám trăm ngàn đồng). Đến ngày 25/8/2023, Ph bị lực lượng Công an Ph hiện, mời về làm việc và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên,

Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Tấn Ph chiếm đoạt là 12.800.000đ (mười hai triệu tám trăm ngàn đồng).

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Tấn Ph là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản nên càng biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại, người liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn Ph phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 107/CT-VKS - ĐL ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Tấn Ph có tiền án, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

Đối với Đối với Lê Văn Thuật, là người bán chiếc điện thoại Iphone 11, màu tím loại 64GB cho Ph với giá 8.200.000đ (tám triệu hai trăm ngàn đồng), nhưng khi bán, anh Thuật không biết số tiền Ph sử dụng để mua điện thoại là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với Lê Văn Thuật.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của khách sạn K C là anh Phan Văn Nh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.800.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người liên quan thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường trực tiếp cho anh Phan Văn Nh số tiền 12.800.000 đồng. Xét thấy sự thỏa thuận về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo, người bị hại và người liên quan trong vụ án này là hoàn toàn tự nguyện,không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên cần ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, xét thấy đây là tài sản bị cáo có được từ nguồn tiền phạm tội mà có nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Ph 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 26/8/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điểu 3; khoản 1 Điều 585 và các Điều 586; 589 của Bộ luật dân sự,

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Ph, người bị hại chị Y Thy và người liên quan anh Nh về việc bồi thường dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Ph có trách nhiệm bồi thường cho anh Phan Văn Nh số tiền 12.800.000đ (mười hai triệu tám trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án (anh Nh) có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án bị cáo Ph còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím (đã qua sử dụng; không kiểm tra chất lượng bên trong) của bị cáo Ph để sung Ngân sách Nhà nước.

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 01/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Ph phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 640.000đ (sáu trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bị hại và người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh LĐ (02);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh LĐ;

(đã ký)

- VKSND tp. ĐL;

- Công an tp. ĐL;

- Chi cục THADS tp. ĐL;

Nguyễn Thị Huyền

- Bị cáo; người bị hại; người liên quan;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ