vanban.org

Bản án 73/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST
Ngày 12 -12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tha

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Minh Mẫn

2. Bà Bùi Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; sinh năm 1981; tại tỉnh Thái Nguyên;

Nơi cư trú: Buôn Tơng L, xã Ea T, huyện CưM, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị L (đã chết); Vợ Nguyễn Thị T (đã ly hôn) và có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền sự: Không; Tiền án: 03- Bản án số 17/2017/HSST ngày 29/5/2017 Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 58/2019/HSST ngày 25/10/2019 Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 44/2021/HSST ngày 29/7/2021 Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân: Ngày 08/6/2012, Chủ tịch UBND huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định số 405/QĐ- UBND, về việc đưa người vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk đối với Nguyễn Văn H, thời gian cai nghiện là 12 tháng. Ngày 07/7/2014, bị Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái pháp chất ma túy” với số tiền 500.000 đồng. Ngày 20/7/2019, bị Công an huyện CưM’gar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái pháp chất ma túy”, hình thức phạt: Cảnh cáo. Ngày 11/3/2021, bị Công an huyện CưM’gar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái pháp chất ma túy”, hình thức phạt: Cảnh cáo.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/10/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư M’gar – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Hoàng Đình H1 – Có mặt

Địa chỉ: Thôn 6, xã Ea K, huyện Cư M, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có phương tiện là xe mô tô để đi lại nên vào sáng ngày 17/10/2024 Nguyễn Văn H nảy sinh ý định đi vào các rẫy của nhà dân để lấy trộm xe mô tô. Khoảng 07 giờ cùng ngày, H đi bộ từ nhà rồi xin đi nhờ xe đến xã Ea K, huyện CưM để trộm cắp xe mô tô. Khi đến đoạn đường thuộc buôn T, xã Ea H, huyện CưM thì H đi bộ vào các rẫy để tìm xe mô tô của người dân để lấy trộm. Khi đi trên đường đất trong các rẫy thì H thấy có chiếc xe mô tô biển số 47H1-033.20 của anh Hoàng Đình H1 đang để trong nhà rẫy không có cửa. Sau đó, H nhìn xung quanh không có người nên H đi vào nơi để xe thì thấy có chìa khóa xe đang cắm sẵn trong ổ khóa, thấy vậy H tiếp tục quan sát xung quanh không thấy có người quản lý nên H dắt xe ra đường đất rồi nổ máy điều khiển xe mô tô đi về nhà H. Khi về đến nhà, H mở cốp yên xe ra thì thấy bên trong cốp yên xe có 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hoàng Đình H1 nên để chiếc xe mô tô ở nhà. Sau khi phát hiện chiếc xe mô tô bị mất anh H1 đến Cơ quan Công an trình báo. Sau khi tiếp nhận tin báo, đến ngày 18/10/2024 Cơ quan Công an mời H lên làm việc, tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của bản thân như trên, đồng thời tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô biển số 47H1-033.20 cùng giấy đăng ký xe cho Cơ quan Công an.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 72/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cư M'gar kết luận: 01 xe mô tô biển số: 47H1-033.20; nhãn hiệu: Honda; số loại: Wave; màu sơn: Đỏ-Bạc-Đen; số máy: JC43E6175822; số khung: 4329BY244847. Định giá tại thời điểm ngày 17/10/2024, có trị giá là 7.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 71/CT – VKS, ngày 18 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định đã truy tố và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến đối đáp tranh luận gì; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 17/10/2024, Nguyễn Văn H ( có 03 tiền án) đã đi vào vườn rẫy của ông Hoàng Đình H1 ở buôn T, xã EaH, huyện CưM, tỉnh Đắk Lắk, lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số: 47H1 – 033.20 của ông Hoàng Đình H1, trị giá tài sản là 7.500.000 đồng thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản’’, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)….

g) Tái phạm nguy hiểm”;

. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại, gây tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành xong hình phạt tù nhưng không chịu cải tạo để trở thành công dân lương thiện nay lại tiếp tục phạm tội với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”; vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện sống biết tôn trọng pháp luật cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo khai báo thành khẩn đây đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại chiếc xe mô tô biển số: 47H1-033.20; nhãn hiệu: Honda; số loại: Wave; màu sơn: Đỏ-Bạc-Đen; số máy: JC43E6175822; số khung: 4329BY244847 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hoàng Đình H1 cho ông Hoàng Đình H1 là chủ sở hữu hợp pháp. Xét việc trao trả là phù hợp với pháp luật cần chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/10/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại cho ông Hoàng Đình H1 chiếc xe mô tô biển số: 47H1-033.20; nhãn hiệu: Honda; số loại: Wave; màu sơn: Đỏ-Bạc-Đen; số máy: JC43E6175822; số khung: 4329BY244847 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hoàng Đình H1.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ