vanban.org

Bản án 73/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Điền Thị Bích T.

Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Điền Thị Bích T và ông Lâm Phi P được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 cho ông Lâm Phi P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Điền Thị Bích T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN W
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 6 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊNH W TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023; về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Điền Thị Bích T, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Ấp Q, xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Lâm Phi P, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Ấp Q, xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Điền Thị Bích T trình bày: Nguyên năm 2010, bà Điền Thị Bích T với ông Lâm Phi P xác lập quan hệ hôn nhân, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 23/9/2010. Trong quá trình chung sống ông bà có hai con chung là cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 (theo Giấy khai sinh số 425 ngày 13/8/2011) và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 (theo Giấy khai sinh số 243 ngày 30/7/2014); hiện cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S sống với ông Lâm Phi P; không có tài sản chung, không có nợ chung và cũng không có người khác nợ vợ chồng. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường cải vả, phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và cả hai không có tiếng nói chung nên đã không còn chung sống vợ chồng.

Nay bà Điền Thị Bích T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Điền Thị Bích T xin được ly hôn với ông Lâm Phi P.

- Về con chung: Bà Điền Thị Bích T đồng ý giao con chung là cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 cho ông Lâm Phi P tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) và bà Điền Thị Bích T đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn Lâm Phi P trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng, ông Lâm Phi P thống như và đồng ý theo bà Điền Thị Bích T trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn với nhau, vợ chồng hay cự cải nên không còn chung sống vợ chồng từ tháng 05/2023 cho đến nay. Theo bà Điền Thị Bích T yêu cầu ly hôn là ông Lâm Phi P đồng ý. Về con chung, ông Lâm Phi P xin được trực tiếp nuôi con cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) và yêu cầu bà Điền Thị Bích T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Điền Thị Bích T yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với ông Lâm Phi P; đồng ý giao con chung là cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 cho ông Lâm Phi P tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) và bà Điền Thị Bích T đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật; tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Trong vụ án bị đơn Lâm Phi P cư trú tại ấp Q, xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp. Do vậy, Toà án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Điền Thị Bích T và bị đơn Lâm Phi P đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung:

[1] Nguyên đơn Điền Thị Bích T và bị đơn Lâm Phi P kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 23/9/2010, nên quan hệ hôn nhân giữa anh bà Điền Thị Bích T với ông Lâm Phi P là hợp pháp. Sau khi kết bà Điền Thị Bích T và ông Lâm Phi P chung sống hạnh phúc và đã có hai con chung là cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014; bà Điền Thị Bích T và ông Lâm Phi P đều xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn, cự cải và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung sống vợ chồng từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay.

[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn...; Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình...” và theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, tự bà Điền Thị Bích T hoặc bà Điền Thị Bích T cùng ông Lâm Phi P có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nên ngày 01/11/2023 bà Điền Thị Bích T tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lâm Phi P là phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Theo nguyên đơn Điền Thị Bích T và bị đơn Lâm Phi P trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn, cự cải và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung sống vợ chồng, thời gian bà Điền Thị Bích T với ông Lâm Phi P phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống tính đến thời điểm khởi kiện và xét xử sơ thẩm là đã kéo dài, nên mâu thuẫn vợ chồng đến mức trầm trọng, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, tình cảm vợ chồng thật sự đã hết và về tương lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các bên và đến việc nuôi dạy con cái, nay bà Điền Thị Bích T cương quyết ly hôn với ông Lâm Phi P; ông Lâm Phi P cũng đồng ý ly hôn theo theo bà Điền Thị Bích T yêu cầu. Do đó, theo bà Điền Thị Bích T yêu cầu xin được ly hôn với ông Lâm Phi P là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp.

[4] Về con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng: theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S đều trên 07 tuổi, nên quyết định giao cháu cho ai trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu và phải xem xét nguyện vọng của các cháu; trên thực tế cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S từ khi bà Điền Thị Bích T và ông Lâm Phi P không còn chung sống thì ông Lâm Phi P là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay, cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S hiện được ông Lâm Phi P nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tình cảm gắn bó với ông Lâm Phi P. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai của đương sự cùng ngày 23/5/2024, có sự chứng kiến của ông Lâm Phi P, cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn cháu xin được sống với ông Lâm Phi P và hiện tại ông Lâm Phi P cũng có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S, nếu thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần (đời sống tâm sinh lý và tình cảm) và cuộc sống bình thường của các cháu, nên sau khi ly hôn tiếp tục giao cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S cho ông Lâm Phi P trực tiếp nuôi là hợp tình, hợp lý và có căn cứ pháp luật. Do vậy, theo bà Điền Thị Bích T đồng ý giao con chung là cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) cho ông Lâm Phi P là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận

[5] Ông Lâm Phi P yêu cầu bà Điền Thị Bích T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật; bà Điền Thị Bích T đồng ý. Hội đồng xét xử nhận thấy khi giao con chưa thành niên cho người cha hay người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng cần phải xem xét đánh giá thật khách quan, đảm bảo về quyền lợi chính đáng của con vì việc nuôi và chăm sóc con vừa là quyền nhưng cũng vừa là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên, sau khi ly hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, ông Lâm Phi P là người trực tiếp nuôi các con nên yêu cầu bà Điền Thị Bích T cấp dưỡng nuôi con theo quy định là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, là có cở sở nên được chấp nhận.

[6] Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Mức cấp dưỡng do... thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết” và “… được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần”; tham khảo hướng dẫn tại khoản 2 và 3 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (hiệu lực ngày 01/07/2024) “Tiền cấp dưỡng cho con... do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng… Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con” và “Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng”. Xét thấy, về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và thời hạn phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do các bên đương sự không thỏa thuận nên Tòa án quyết định; tại thời điểm xét xử sơ thẩm huyện W thuộc vùng IV, mức lương tối thiểu 3.250.000 đồng, nên mức cấp dưỡng không thấp hơn 1.625.000 đồng/cháu/tháng; để tạo điều kiện và có thời gian cho người cấp dưỡng thực hiện tốt nghĩa, phương thức cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng là phù hợp. Do đó, buộc bà Điền Thị Bích T cấp dưỡng cho cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S mỗi tháng 1.625.000 đồng/cháu cho đến khi cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S trưởng thành (tròn 18 tuổi), thời hạn phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp theo quy định pháp luật.

[7] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại, theo bà Điền Thị Bích T và ông Lâm Phi P đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[9] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn bà Điền Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; hướng dẫn tại điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Điền Thị Bích T.

- Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Điền Thị Bích T và ông Lâm Phi P được ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014 cho ông Lâm Phi P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi).

Buộc bà Điền Thị Bích T có nghĩa cấp dưỡng cho cháu Lâm Thị Bảo N, sinh ngày 07/6/2011 và cháu Lâm Hoàng S, sinh ngày 28/6/2014, một cháu một tháng số tiền 1.625.000 đồng, thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/06/2024) cho đến khi cháu Lâm Thị Bảo N và cháu Lâm Hoàng S trưởng thành (tròn 18 tuổi).

Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho bà Điền Thị Bích T theo quy định pháp luật, không ai có quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại: Không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Điền Thị Bích T phải chịu 600.000 đồng (án phí hôn nhân 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng 300.000 đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0010405 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Điền Thị Bích T phải nộp thêm 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ