- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Hồng C được ly hôn với anh Lê Phúc T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2024/HNGĐ - ST Ngày: 23 - 5 - 2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Nghĩa
2. Bà Huỳnh Kim Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ái Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 155/2024/TLST – HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST - HN ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng C, sinh năm 2002. (Có mặt)
Địa chỉ Đăng ký thường trú: Ấp HT 2, xã TQ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
Hiện trú tại: ấp PY A, xã PQ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
2. Bị đơn: Anh Lê Phúc T, sinh năm 1996 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp PT A, xã PQ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2024 và tại phiên tòa – nguyên đơn chị Lê Thị Hồng C trình bày:
Chị C và anh Lê Phúc T kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PQ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 28/10/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 04/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, làm cho vợ chồng thường xuyên cự cải, dù vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng không được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị C yêu cầu ly hôn với anh Lê Phúc T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Hữu Phúc T, sinh ngày 11/7/2020, khi ly hôn, chị C đồng ý giao con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị C không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Chị C không yêu cầu giải quyết
* Bị đơn anh Lê Phúc T có văn bản đề ngày 04/5/2024 nêu ý kiến về các yêu cầu của chị C như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, nên anh T đồng ý ly hôn với chị C
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Hữu Phúc T, sinh ngày 11/7/2020, hiện nay anh T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: anh T không tranh chấp. không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Anh T không yêu cầu giải quyết
Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn”, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã PQ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Phúc T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy trích lục kết hôn số 71/TLKH-BS ngày 20/02/2024 của Uỷ Ban nhân dân xã PQ, thể hiện chị C và anh T có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn số 57 do Ủy ban nhân dân xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 28/10/2020, do đó có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T đã có nhiều bất hòa, mâu thuẫn trầm trọng, chị C và anh T không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mạnh ai nấy sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh T cũng đồng ý ly hôn với chị C. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của chị C là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh T
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Hữu Phúc T, sinh ngày 11/7/2020, hiện nay anh T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, chị C cũng đồng ý, nên Hội đồng xét xử giao cháu Lê Hữu Phúc T, sinh ngày 11/7/2020 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị C và anh T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét
Nợ chung: Chị C và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Buộc chị C phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Hồng C được ly hôn với anh Lê Phúc T
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Hữu Phúc T, sinh ngày 11/7/2020 cho anh Lê Phúc T tiếp tục nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
4. Về tài sản chung: Chị C và anh T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Hồng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000929 ngày 21/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ; chị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hồng C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Phúc T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Long Hồ; - Chị cục THADS huyện Long Hồ; - Các đương sự; - Lưu VP, HS./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ngọc Tú |