vanban.org

Bản án 73/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ.

Về việc nuôi con: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; giao cho chị Phạm Thị Mai H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Thị Thùy D, sinh ngày 13-9-2006 và Hoàng Huyền D1, sinh ngày 17-11-2010. Anh Hoàng Trọng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13- 8- 2024
V/v: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Giao;

Ông Đỗ Văn Cận.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 145/2024/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mai H, sinh năm 1985; địa chỉ: H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".

- Bị đơn: Anh Hoàng Trọng Đ, sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Phạm Thị Mai H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Trọng Đại tự n tìm hiểu, kết hôn, đã được UBND xã G, huyện G cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 02- 12- 2005. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do lối sống, tính cách không hợp, không có tiếng nói chung trong hôn nhân. Vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị xin ly hôn anh Hoàng Trọng Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Hoàng Thị Thùy D, sinh ngày 13-9-2006 và Hoàng Huyền D1, sinh ngày 17-11-2010. Hiện con chung đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị nhận nuôi con cả hai con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.

Đối với anh Hoàng Trọng Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh Đ không trình bày quan điểm và không đến Tòa án để làm việc.

Theo bản tự khai con chung Hoàng Thị Thùy D và Hoàng Huyền D1: Cháu D2 và cháu D1 đều có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, huyện G; Sau khi kết hôn, anh Đ và chị H sinh sống tại địa phương và có 02 con như chị H trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ. Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, giao con chung Hoàng Thị Thùy D, sinh ngày 13-9-2006 và Hoàng Huyền D1, sinh ngày 17-11-2010 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Mai H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hoàng Trọng Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị H và anh Đ không có hạnh phúc, đã sống ly thân trong thời gian dài, anh Đ không đến Tòa án để làm việc, không tham gia hòa giải. Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Mai H đối với anh Hoàng Trọng Đ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.

Về việc nuôi con: Xác định vợ chồng chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ có 02 con chung là Hoàng Thị Thùy D, sinh ngày 13-9-2006 và Hoàng Huyền D1, sinh ngày 17-11-2010. Căn cứ vào điều kiện, nguyện vọng nuôi con và ý kiến của con chung, căn cứ quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; đủ cơ sở giao cho chị Phạm Thị Mai H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xác định anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu về tài sản nên không xem xét, giải quyết.

[5 ] Về án phí: Chị Phạm Thị Mai H là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Mai H và anh Hoàng Trọng Đ.

2. Về việc nuôi con: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; giao cho chị Phạm Thị Mai H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Thị Thùy D, sinh ngày 13-9-2006 và Hoàng Huyền D1, sinh ngày 17-11-2010. Anh Hoàng Trọng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Phạm Thị Mai H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004661 ngày 18- 6- 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Phạm Thị Mai H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ