vanban.org

Bản án 73/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Kiều Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích” Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự ghi nhận việc bị cáo Kiều Xuân H nhất trí bồi thường cho bà Đinh Thị C số tiền 35.089.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Xuân H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HS-ST
Ngày 12 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền; Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2023/TLST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Kiều Xuân H - Sinh ngày 14 tháng 8 năm 1973 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Nơi cư trú: Thôn D, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kiều Sơn H và bà Kiều Thị S; Có vợ là Nguyễn Thị T; Bị cáo có 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/3/2023 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. “Có mặt”.

- Người bị hại:Bà Đinh Thị C - Nơi cư trú: Thôn D, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18/12/2022, sau khi uống rượu xong, Kiều Xuân H đi đến nhà bà Đinh Thị C (sinh ngày 15/5/1945, trú tại thôn D, xã C, thành phố L) chơi và có đi nhầm đôi dép của nhà bà Đinh Thị C, bà Đinh Thị C cho rằng Kiều Xuân H đã lấy đôi dép của mình nên giữa bà Đinh Thị C và Kiều Xuân H xảy ra cãi chửi nhau. Đến khoảng 14 giờ ngày 19/12/2022, sau khi uống rượu xong, Kiều Xuân H đi sang nhà hàng xóm là ông Hoàng Văn M (sinh năm 1960, ở thôn D, xã C, thành phố L) chơi và kể cho ông Hoàng Văn M nghe về việc Kiều Xuân H đi nhầm đôi dép của bà Đinh Thị C rồi xảy ra cãi vã. Lúc này, bà Đinh Thị C đi cắt rau lợn đi ngang qua nghe thấy Kiều Xuân H đang nói chuyện với ông Hoàng Văn M, bà Đinh Thị C đi vào nhà ông Hoàng Văn M và xảy ra cãi chửi nhau với Kiều Xuân H. Ông Hoàng Văn M nói với bà Đinh Thị C và Kiều Xuân H đi về nhà, khi ra đến trước cổng nhà ông M, giữa Kiều Xuân H và bà Đinh Thị C vẫn tiếp tục cãi chửi nhau, Kiều Xuân H đi vào bếp của nhà ông Hoàng Văn M lấy 01 thanh gỗ dài khoảng 01 mét, một đầu rộng khoảng 09 cm, đầu còn lại rộng khoảng 05 cm, độ dày khoảng 02 cm đi ra chỗ bà Đinh Thị C đang đứng, Kiều Xuân H cầm gậy gỗ bằng tay phải vụt 03 phát từ trên xuống dưới, trúng vào cẳng tay trái của bà Đinh Thị C. Sau đó, ông Hoàng Văn M đến căn ngăn, Kiều Xuân H đi về nhà, còn bà Đinh Thị C được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai và trình báo Công an xã Cam Đường.

Tại Kết luận giám định số: 08/TgT ngày 16/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đã kết luận: Vết mổ tại mặt sau cẳng tay trái kích thước trung bình: Mức tổn thương cơ thể 02%; Gãy 1/3 dưới xương trụ trái đã mổ kết hợp xương, xương thẳng trục, không ảnh hưởng chức năng: Mức tổn thương cơ thể 09%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Đinh Thị C là 11%. Cơ chế: Chấn thương trực tiếp. Vật gây thương tích: Vật tày

Tại phiên tòa bị cáo Kiều Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cáo trạng số: 40/CT- VKSTPLC ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Kiều Xuân H về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Kiều Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Kiều Xuân H nhất trí bồi thường cho bà Đinh Thị C số tiền 35.089.365 đồng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh gậy gỗ; Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Kiều Xuân H

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 18/12/2022, sau khi uống rượu xong, Kiều Xuân H đi đến nhà bà Đinh Thị C chơi và có đi nhầm đôi dép của nhà bà Đinh Thị C, bà Đinh Thị C cho rằng Kiều Xuân H đã lấy đôi dép của mình nên giữa bà Đinh Thị C và Kiều Xuân H xảy ra cãi chửi nhau. Đến khoảng 14 giờ ngày 19/12/2022, sau khi uống rượu xong, Kiều Xuân H đi sang nhà hàng xóm là ông Hoàng Văn M chơi và kể cho ông Hoàng Văn M nghe việc Kiều Xuân H đi nhầm đôi dép của bà Đinh Thị C rồi xảy ra cãi vã. Lúc này, bà Đinh Thị C đi cắt rau lợn đi ngang qua nghe thấy Kiều Xuân H đang nói chuyện với ông Hoàng Văn M. Bà Đinh Thị C đi vào nhà ông Hoàng Văn M và xảy ra cãi chửi nhau với Kiều Xuân H. Ông Hoàng Văn M nói với bà Đinh Thị C và Kiều Xuân H đi về nhà, khi ra đến trước cổng nhà ông M, giữa Kiều Xuân H và bà Đinh Thị C vẫn tiếp tục cãi chửi nhau, Kiều Xuân H đi vào bếp của nhà ông Hoàng Văn M lấy 01 thanh gỗ dài khoảng 01 mét, một đầu rộng khoảng 09 cm, đầu còn lại rộng khoảng 05 cm, độ dày khoảng 02 cm đi ra chỗ bà Đinh Thị C đang đứng, Kiều Xuân H cầm gậy gỗ bằng hai tay vụt 03 phát từ trên xuống dưới, trúng vào cẳng tay trái của bà Đinh Thị C làm gẫy tay bà Đinh Thị C.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Theo kết luận giám định thì bà Đinh Thị C: Vết mổ tại mặt sau cẳng tay trái kích thước trung bình: Mức tổn thương cơ thể 02%; Gãy 1/3 dưới xương trụ trái đã mổ kết hợp xương, xương thẳng trục, không ảnh hưởng chức năng: Mức tổn thương cơ thể 09%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Đinh Thị C là 11%. Chấn thương trực tiếp. Vật gây thương tích: Vật tày. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo gây thương tích với tổng thương tật của bà Đinh Thị C là 11%, dùng hung khí nguy hiểm là 01 thanh gỗ dài 85 cm, người bị hại là người già yếu nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, người bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Đinh Thị C yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền: Phí điều trị tại Bệnh viện: 2.769.365 đồng, tiền giám định thương tật là: 2.040.000 đồng; Tiền chi phí xe đưa đi cấp cứu là: 600.000 đồng; tiền xe taxi đi lại để khám chữa bệnh: 1.050.000 đồng; Tiền nẹp tay, bông, băng, thuốc gây tê để phẫu thuật là: 2.050.000 đồng; Tiền thuốc truyền và thuốc uống trong 11 ngày điều trị là: 3.700.000; Đơn thuốc về nhà là: 1.580.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất do chấn thương nghỉ điều trị trong 90 ngày: 90 x 100.000 đồng = 9.000.000 đồng; Chi phí ngày công lao động cho người khác chăm tôi trong thời gian điều trị 11 ngày X 300.000 = 3.300.000 đồng; Tiền công người chăm sóc 30 ngày tại nhà: 30 ngày X 300.000 = 9.000.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là: 35.089.365 đồng. Tại phiên toà bị cáo nhất trí bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 thanh gỗ dài 85 cm một đầu rộng khoảng 09 cm, đầu còn lại rộng khoảng 05 cm, độ dày khoảng 02 cm là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Kiều Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Căn cứ Điểm đ khoản 2 điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Kiều Xuân H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/3/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự ghi nhận việc bị cáo Kiều Xuân H nhất trí bồi thường cho bà Đinh Thị C số tiền 35.089.365 đồng (Ba mươi năm triệu không trăm tám chín nghìn ba trăm sáu năm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ có chiều dài 85 cm một đầu gậy gỗ rộng khoảng 09 cm, đầu còn lại rộng 05 cm, độ dày gậy gỗ là 02 cm

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Kiều Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.754.468 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm sáu tám đồng)

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ