- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn T-T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| [ Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 30/8/2023 V/v “Ly hôn giữa bà T với ông T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Ngọc Hồng
2. Bà Dương Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 239/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXX-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 2000;
Địa chỉ: Số nhà A, phường S, thành phố B, tỉnh Bến Tre
2. Bị đơn: Ông Trịnh Thanh T, sinh năm: 1982
Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Bà T có Đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2023, Bản tự khai, Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 13/7/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:
Bà và ông T kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 03/12/2021 do tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian gần đây bà và ông T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, ông T thường xuyên đánh đập bà mỗi lần gây gỗ. Dù đã cố gắng hàn gắn để lo cho con nhưng vẫn không có
- 1 -
kết quả. Bà và ông T hiện đã ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng. Nay tình cảm giữa bà và ông T không còn nên bà xin ly hôn với ông T.
Về con chung: quá trình chung sống ông bà có 01 con chung Trịnh Hiểu M sinh ngày 08/6/2022, cháu M hiện đang sống với ông T. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu giao con chung cho ông T nuôi, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lý do công việc bà không thể đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự để triệu tập ông Trịnh Thanh T tới Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông Trịnh Thanh T không đến, do đó Tòa án không thể lấy lời khai của ông T cũng như không tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn được.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Trịnh Thanh T. Về con chung: sau khi ly hôn ông T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trịnh Hiểu M sinh ngày 08/6/2022. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết. Án phí giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T khởi kiện bị đơn ông Trịnh Thanh T; quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Trịnh Thanh T là tranh chấp về ly hôn; hiện nay, ông T đang cư trú tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trịnh Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T và bị đơn ông Trịnh Thanh T.
Về nội dung: Bà T và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/12/2021 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được
- 2 -
pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà T, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian gần đây bà và ông T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, ông T thường xuyên đánh đập bà mỗi lần gây gỗ. Dù đã cố gắng hàn gắn để lo cho con nhưng vẫn không có kết quả. Bà và ông T hiện đã ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng. Nay tình cảm giữa bà và ông T không còn nên bà xin ly hôn với ông T. Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đã mở phiên hòa giải nhiều lần để động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng của bà T và ông T nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà T. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
Về con chung: trong quá trình chung sống bà T và ông T có 01 con chung tên Trịnh Hiểu M sinh ngày 08/6/2022. Bà T có yêu cầu giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi sau khi ly hôn. Xét thấy, cháu Trịnh Hiểu M hiện đang sống với ông T, có cuộc sống sinh hoạt ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Trịnh Hiểu M cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: bà T không cấp dưỡng nuôi con, ông Trịnh Thanh T không có ý kiến trong vụ án nên không xem xét. Trường hợp có tranh chấp các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về tài sản chung và nợ chung: bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đồng bà T phải chịu theo quy định của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Trịnh Thanh T.
- 3 -
2. Về con chung: giao con chung là cháu Trịnh Hiểu M sinh ngày 08/6/2022 cho ông Trịnh Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Cẩm T không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002954 ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bến Tre. - TAND tỉnh Bến Tre. - Chi cục THADS TP Bến Tre. - UBND xã M. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. - 4 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lương Thị Thùy Dương |