- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn Nguyễn Thị Yến- Huỳnh Thanh Tùng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Y và anh Huỳnh Thanh T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17–8– 2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Sáu
2. Ông Đào Văn Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 175/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Nhà T, thị trấn C, huyện V, tỉnh B.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Nhà T, thị trấn C, huyện V, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 7 năm 2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Chị Y và anh T tự nguyện xây dựng hôn nhân năm 1992, quá trình chung sống không có đăng ký kết hôn. Con chung: Có 02 người con chung là cháu H, sinh ngày 09/7/2005, cháu N, sinh năm 1995. Các con đã trưởng thành nên chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung: Có 09 công đất ruộng, 02 công vườn tạp, và 01 căn nhà cấp 04, tọa lạc ấp Nhà T, thị trấn C, huyện V, tỉnh B. Phần tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vả với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ đó chị Y yêu cầu ly hôn với anh T.
Bị đơn anh Huỳnh Thanh T trình bày: Anh T và chị Y tự nguyện xây dựng hôn nhân năm 1992, quá trình chung sống không có đăng ký kết hôn. Con chung: Có 02 người con chung là cháu H, sinh ngày 09/7/2005, cháu N, sinh năm 1995. Các con đã trưởng thành nên anh T và chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung: Có 09 công đất ruộng, 02 công vườn tạp, và 01 căn nhà cấp 04, tọa lạc ấp Nhà T, thị trấn C, huyện V, tỉnh B. Phần tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay chị Y yêu cầu ly hôn thì anh T đồng ý. Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh B trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không phát hiện vi phạm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố chị Y và anh T không phải là vợ chồng; Về con chung đã trương thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết. Chị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Ngày 18 tháng 7 năm 2023 chị Nguyễn Thị Y nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn đối với anh Huỳnh Thanh T. Anh T có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp Nhà T, thị trấn C, huyện V, tỉnh B. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh B thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Y và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Vào năm 1993 chị Y và anh T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, là hôn nhân không hợp pháp. Chị Y cho rằng, trong quá trình chung sống, anh, chị có nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn này không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo nên chị Y yêu cầu ly hôn với anh T và phía anh T cũng đồng ý.
Xét thấy, do chị Y và anh T không có đăng ký kết hôn, theo quy định khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản… được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”. Do vậy, Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y đối với anh T, không công nhận chị Y và anh T là vợ chồng.
. Về con chung: Chị Y và anh T thống nhất anh chị có hai người con chung là cháu N, sinh ngày 22/6/1995 và cháu H, sinh ngày 09/7/2005. Hiện cháu N và cháu H đã trưởng thành, chị Y và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về tài sản chung: Chị Y và anh T xác định tài sản chung có 09 công đất ruộng, 02 công vườn tạp, và 01 căn nhà cấp 04, tọa lạc ấp Nhà T, thị trấn C, huyện V, tỉnh B. Ngoài ra, không có tài sản nào khác. Phần tài sản chung, chị Y và anh T tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về nợ chung: Chị Y và anh T xác định không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị Y phải chịu 300.000 đồng, chị Y đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0013717 ngày 18 tháng 7 năm 2023 được chuyển thu án phí.
. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Y và anh Huỳnh Thanh T là vợ chồng.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Huỳnh Thanh T có hai người con chung là cháu H N, sinh ngày 22/6/1995 và cháu H Diễm Quỳnh, sinh ngày 09/7/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Huỳnh Thanh T tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Huỳnh Thanh T không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng, chị Y đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0013717 ngày 18 tháng 7 năm 2023 được chuyển thu án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B - VKSND huyện V; - THADS huyện V; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân thị trấn Châu H huyện V, tỉnh B; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thụy Lan Chi |