vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lương Duy Kh. Về con chung: Giao cháu Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Mỹ A thành niên. Ông Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dư…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranhc hấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 7 - 2023
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Linh.

Bà Võ Thị Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 82/2023/TLST- HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1990. Địa chỉ: ấp Th, xã Th, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Lương Duy Kh; Sinh năm: 1990. Địa chỉ: ấp Th, xã Th, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 01 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lương Duy Kh tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Thới Thuận, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19, ngày 23/02/2018. Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vả. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, quan điểm và cách sống. Ông Kh thường xuyên nhậu say về ghen tuông vô cớ, dùng lời lẽ xúc phạm bà T. Bà T và Ông Kh sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay bà T xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và Ông Kh không còn, nên bà T yêu cầu ly hôn với Ông Kh; Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và Ông Kh có 01 người con chung tên Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018. Hiện nay, cháu A đang sống với bà T. Bà T yêu cầu nuôi con chung là Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho đến khi thành niên, không yêu cầu Ông Kh phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên bà T không có yêu cầu gì.

Tại Bản tự khai ngày 19 tháng 6 năm 2023, bị đơn là ông Lương Duy Kh trình bày: Về hôn nhân: Ông Lương Duy Kh không thống nhất ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, vì Ông Kh còn thương vợ, thương con; Về con chung: Nếu ly hôn ông Lương Duy Kh thống nhất giao con chung là Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông Lương Duy Kh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên ông Lương Duy Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Lương Duy Kh là bị đơn trong vụ án, Ông Kh đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt Ông Kh.

[1.2] Đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lương Duy Kh là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu được ly hôn với Ông Kh là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T. Ông Lương Duy Kh không đồng ý ly hôn, nhưng Ông Kh không tìm giải pháp hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên yêu cầu của Ông Kh không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà T được ly hôn với Ông Kh.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và Ông Kh có 01 người con chung tên là Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018, hiện nay cháu Mỹ A đang sống với bà T. Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu được nuôi con chung tên là Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho đến khi thành niên, không yêu cầu Ông Kh phải cấp dưỡng nuôi con. Tại Bản tự khai ngày 19 tháng 6 năm 2023, bị đơn là ông Lương Duy Kh trình bày nếu ly hôn Ông Kh thống nhất giao con là Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi thành niên, Ông Kh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay, cháu Lương Mỹ A đang sống chung với bà T, bà T và Ông Kh cũng thỏa thuận được việc nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi thành niên, do bà T không yêu cầu Ông Kh phải cấp dưỡng nuôi con, nên Ông Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho Ông Kh không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và Ông Kh không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Kh không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

1. Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lương Duy Kh.

2. Về con chung: Giao cháu Lương Mỹ A, sinh ngày 05/10/2018 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Mỹ A thành niên. Ông Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho Ông Kh, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và Ông Kh không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006709 ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Lương Duy Kh không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T và ông Lương Duy Kh có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ