vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P được ly hôn ông Nguyễn Minh D. Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2020, ngày 08/6/2020 của Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Thới Sơn, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Về con chung, cấp dưỡng: Bà Bùi Thị Kim P được trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 8 - 2023
“V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lâm Tới; bà Nguyễn Thị Mai.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau Rết - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2023/TLST-HN&GĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim P, sinh năm 1998; nơi cư trú: tổ 10, khóm TT, phường TS, thị xã TB, tỉnh AG; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1998; nơi cư trú: tổ 12, khóm TT, phường TS, thị xã TB, tỉnh AG; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P (sau đây gọi tắt là bà P) trình bày:

Năm 2019, bà và ông Nguyễn Minh D tự tìm hiểu, tổ chức đám cưới, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Thới Sơn, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang vào ngày 08/6/2020 theo giấy chứng nhận kết hôn số 27/2020, ngày 08/6/2020. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/6/2020 hiện đang sinh sống cùng bà. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 9/2020 thì phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể hàn gắn tình cảm để tiếp tục chung sống nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Minh D. Về con chung, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung Nguyễn Minh Triết, sinh ngày 10/6/2020, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: giấy chứng nhận kết hôn giữa bà Bùi Thị Kim P với ông Nguyễn Minh D (bản chính); trích lục khai sinh Nguyễn Minh T (bản sao); đơn xin vắng mặt ngày 28/6/2023 (bản chính) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị đơn ông Nguyễn Minh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải nhưng vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa,

- Theo nội dung đơn xin vắng mặt ngày 28/6/2023, bà P xác định vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.

- Bị đơn ông Nguyễn Minh D xác định không cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với vụ án; đồng ý theo yêu cầu ly hôn của bà P; đồng ý giao con chung Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/6/2020 cho bà P được tiếp tục nuôi dạy, ông D không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: người tham gia tố tụng cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, bà Bùi Thị Kim P với ông Nguyễn Minh D có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng; hiện bà P và ông D đã không còn sống chung, không thể hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc. Tại phiên tòa, ông D đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà P. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông D; về con chung, giao cháu Nguyễn Minh T cho bà P được tiếp tục nuôi dạy, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung, bà P và ông D không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh D; ông D cư trú trên địa bàn thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà P có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P và ông Nguyễn Minh D chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Thới Sơn, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 27/2020, ngày 08/6/2020 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Bà P trình bày, sau khi kết hôn, bà và ông D chung sống hạnh phúc, tháng 9/2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau cho đến nay, tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể hàn gắn tình cảm để tiếp tục chung sống nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Minh D.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng và triệu tập ông D đến làm việc nhưng ông D không tham dự cũng như không có ý kiến phản hồi. Bà Nguyễn Thị H là chị ruột của ông Nguyễn Minh D nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo cho ông D biết việc bà P khởi kiện ly hôn nhưng ông D không cung cấp ý kiến, ông D có thông tin cho bà Huyền biết, ông D đồng ý ly hôn với bà P, đồng ý giao con chung Nguyễn Minh T cho bà P tiếp tục nuôi dạy, thống nhất với các ý kiến, yêu cầu của bà P đối với vụ án. Tại phiên tòa, ông D đồng ý ly hôn với bà P. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim P về việc ly hôn với ông Nguyễn Minh D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. [4] Về con chung, cấp dưỡng: Bà P xác định trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/6/2020 hiện do bà đang nuôi dạy; bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con; thông qua bà H, ông D đồng ý giao cháu Triết cho bà P nuôi dạy, ông không cấp dưỡng nuôi con và tại phiên tòa ông D xác định đồng ý giao con chung Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/6/2020 cho bà P được tiếp tục nuôi dạy, ông D không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/6/2020 cho bà Bùi Thị Kim P được tiếp tục nuôi dạy, ông Nguyễn Minh D không cấp dưỡng nuôi con chung. [5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P, ông D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí sơ thẩm: Bà Bùi Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà P đã nộp. Ông Nguyễn Minh D không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim P.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P được ly hôn ông Nguyễn Minh D. Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2020, ngày 08/6/2020 của Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Thới Sơn, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung, cấp dưỡng: Bà Bùi Thị Kim P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/6/2020; ông Nguyễn Minh D không cấp dưỡng nuôi con.

Bà Bùi Thị Kim P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Minh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Bùi Thị Kim P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số TU/2022/0008929 ngày 27 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên; bà P đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Minh D không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ