vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Xử cho chị Dư Thị N được ly hôn anh Lê Gia S. Về con chung: Giao cháu Lê Gia H, sinh ngày 10/01/2011 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 9 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hà Thị Hoà

Ông Phạm Đức Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Ninh Thị Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 60/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dư Thị N; sinh năm: 1983; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Lê Gia S; sinh năm: 1976; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà vắng mặt chị N, anh S. Chị N đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Dư Thị N trình bày: Chị và anh Lê Gia S kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 18/11/2002 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 17 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra, anh S thường xuyên uống rượu về chửi bới, xúc phạm chị. Trầm trọng nhất là ngày 19/6/2023, sau khi anh S uống rượu đã chửi bới đánh chị. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 06/2023 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Gia L, sinh ngày 27/11/2003 và cháu Lê Gia H, sinh ngày 10/01/2011. Hiện cháu L đã thành niên, có khả năng lao động, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện cháu H đang ở với chị. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H. Không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Gia S trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 06/2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh bị đau sườn bên hông, anh bảo chị N đưa tiền cho anh đi khám nhưng chị N nói đi nói lại, vợ chồng cãi nhau nên có xảy ra xô sát. Từ hôm đó chị N về nhà ngoại sinh sống. Anh có lên động viên chị N về nhưng chị N không đồng ý. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Gia L, sinh ngày 27/11/2003 và cháu Lê Gia H, sinh ngày 10/01/2011. Hiện cháu L đã thành niên, có khả năng lao động, anh S không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện cháu H đang ở với chị N. Nếu ly hôn, anh giao cháu H cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh S không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị N đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh S không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Dư Thị N được ly hôn anh Lê Gia S. Giao cháu Lê Gia H, sinh ngày 10/01/2011 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Chị Dư Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Lê Gia S, nơi cư trú tại Thôn H, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Dư Thị N đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Gia S lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh S vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị N, anh S.

Về hôn nhân: Chị Dư Thị N và anh Lê Gia S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/11/2002 tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm. Anh S cũng thừa nhận vợ chồng có xảy ra xô sát. Chị N về nhà ngoại sinh sống từ tháng 06/2023 và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị N cương quyết muốn được ly hôn. Anh S không đồng ý ly hôn, tuy nhiên Tòa án đã thông báo nhưng anh S không đến tham gia phiên toà, thể hiện anh S không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị N, anh S đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị N được ly hôn anh S.

Về con chung: Chị N và anh S có 02 con chung. Hiện cháu L đã thành niên, có khả năng lao động. Chị N và anh S không yêu cầu nên không xem xét.

Xét thấy, hiện tại cháu H đang ở với chị N. Cháu có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu. Chấp nhận yêu cầu của chị N và anh S, giao cháu H cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị N, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị N, anh S không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Dư Thị N được ly hôn anh Lê Gia S.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Gia H, sinh ngày 10/01/2011 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Dư Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000637 ngày 17/7/2023. Chị N đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị N, anh S có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ