vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông và ông Hoàng Luật

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng

Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 543/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1985

Địa chỉ: tổ 5, ấp 3, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mạnh T, sinh năm 1982

Địa chỉ: tổ 5, ấp 3, xã La Ngà, huyện Định Quán, Đồng Nai.

(Anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2022, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét

xử nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Mạnh T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân

vào năm 2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thới H, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 67, ngày 19/4/2007.

Đời sống hôn nhân của vợ chồng anh đầm ấm, hạnh phúc đến năm 2018 thì

bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm thường hay cãi vã dẫn đến chị T đã dẫn hai con về sinh sống và làm việc tại ấp 3, xã La Ngà, huyện Định Quán. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện, hiện nay anh và chị T đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, nay tình cảm vợ chồng không còn anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mạnh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 (Hai) con chung Nguyễn Hữu Thiên Phú,

sinh ngày 20/7/2008 và Nguyễn Hữu Thiên Ân, sinh ngày 21/12/2010. Khi ly hôn, anh H đồng ý giao hai con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng, mỗi cháu số tiền là 1.500.000đồng/01 tháng, cho đến khi các con trưởng thành và có khả năng lao động.

Về tài sản chung: Anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết; về nợ chung: Theo anh H, vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Mạnh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

nhưng không đến Tòa án để làm việc cũng không hợp tác cố tình vắng mặt khi Tòa án xác minh, ghi lời khai tại địa phương vì vậy không có lời khai hay lời trình bày của chị T.

Để chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình, nguyên đơn đã nộp kèm theo

đơn khởi kiện những tài liệu chứng cứ sau: Căn cước công dân (bản sao); Xác nhận thông tin cư trú (bản chính); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh của các con chung (bản sao); Lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai; Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 01/02/2023. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tòa án đã tiến hành sao gửi hợp lệ cho bị đơn.

Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu

thập những tài liệu, chứng cứ sau: Đơn nguyện vọng của cháu Nguyễn Hữu Thiên Phú và cháu Nguyễn Hữu Thiên Ân; Đơn xin xét xử vắng mặt; Biên bản xác minh ngày 19/4/2022 về tình trạng hôn nhân của các đương sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho anh H ly hôn với chị Nguyễn Thị

Mạnh T; về con chung: Đề nghị giao hai cháu Nguyễn Hữu Thiên Phú và Nguyễn Hữu Thiên Ân cho chị T nuôi dưỡng, Chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh H đối với hai con chung mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng/02 con chung.

Về tài sản chung: Anh H trình bày không có không yêu cầu Tòa án giải

quyết, nên không xem xét. Về nợ chung: anh H khai không có không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào

kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Hữu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị

Nguyễn Thị Mạnh T, tranh chấp về nuôi hai con chung là Nguyễn Hữu Thiên Phú, sinh ngày 20/7/2008 và Nguyễn Hữu Thiên Ân, sinh ngày 21/12/2010. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bị đơn chị Nguyễn Thị Mạnh T có nơi cư trú tại: Ấp 3, xã Là Ngà, huyện

Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề

nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị Mạnh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh H, chị T được xác lập trên cơ

sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thới H, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 67, ngày 19/4/2007, do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Đời sống hôn nhân của anh H, chị T đầm ấm, hạnh phúc đến năm 2018

thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không thông cảm và chia sẻ cho nhau những vấn đề trong cuộc sống. Từ năm 2018 đến nay, anh H, chị T đã không còn sống chung, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Lời khai của nguyên đơn về quá trình chung sống, nguyên nhân phát

sinh mâu thuẫn của vợ chồng phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng. Qua đó có đủ cơ sở xác định vợ chồng anh H, chị T đã có những mâu thuẫn lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn nên sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay.

Từ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ thu thập được nhận

thấy anh H, chị Thảp trong quá trình sống chung đã không tôn trọng, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H, chị T có

02 (hai) con chung là Nguyễn Hữu Thiên Phú, sinh ngày 20/7/2008 và Nguyễn Hữu Thiên Ân, sinh ngày 21/12/2010. Khi ly hôn, anh H đồng ý giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng số tiền 3.000.000đ cho đến khi các con thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Chị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến nên không Tòa án không xem xét yêu cầu của chị T.

Xét thấy từ khi vợ chồng anh H, chị T không còn sống chung thì các

cháu Phú, An do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Các cháu có nguyện vọng được sống chung với chị T. Do đó giao hai cháu Nguyễn Hữu Thiên Phú và Nguyễn Hữu Thiên Ân cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền 1.500.000đ/cháu, tổng số tiền 3.000.000đ/tháng, cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết; về nợ chung:

Tòa án không xem xét, không giải quyết. Đối với chị T nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung với anh H có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí: Anh H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó anh H phải

chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án

là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 85, 91, 92, 93 luật hôn nhân gia đình năm 2000; Các điều 19, 51, 56,

81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu H về việc “Ly hôn, tranh

chấp về nuôi con chung” đối với chị Nguyễn Thị Mạnh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu H được ly hôn chị Nguyễn Thị

Mạnh T.

2. Về nuôi con chung: Giao hai cháu Nguyễn Hữu Thiên Phú, sinh ngày

20/7/2008; Nguyễn Hữu Thiên Ân, sinh ngày 21/12/2010 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền 1.500.000đ/cháu, tổng số tiền 3.000.000đ/tháng, cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Anh H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây

trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về tài sản chung: Tòa án không xem xét, giải quyết; về nợ chung: Tòa án

không xem xét, giải quyết. Khi nào có tranh chấp về chia tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)

án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn; 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ. Số tiền 300.000 đồng anh H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004050 ngày 26/12/2022 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí. Anh H còn phải có nghĩa vụ nộp tiếp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: Anh H, chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15

(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ