vanban.org

Bản án 73/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn V đối với bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn V số tiền nợ hụi 35.500.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) Kể từ ngày ông V có đơn yêu cầu thi hành án, bà M và ông Đ không thi hành khoản tiền nêu trên thì bà M và ông Đ phải trả lãi đối với số tiền chậm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Vủ - Mỏng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn V đối với bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/DS-ST
Ngày 18-7-2023
“V/v tranh chấp nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Bé

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp HT, xã LTT, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông V: Bà Mai Thị Gi, sinh năm 1978 (Có mặt). Theo văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 02 năm 2023.

Địa chỉ cư trú: Ấp HT, xã LTT, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Hiệp, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Quốc Đ, sinh năm 1966 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Hiệp, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 12 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Mai Thị Gi trình bày:

Trước đây ông V có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ làm chủ hụi, cụ thể như sau:

Dây thứ nhất: Mở ngày 25/7/2020 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, dây hụi có 25 chưng, trong đó ông V có tham gia chơi 01 chưng. Đến ngày 25/8/2022 mãn hụi ông V hốt được số tiền 24.000.000 đồng, trừ tiền hoa hồng cho chủ hụi còn lại là 23.500.000 đồng. Sau đó, bà M và ông Đ trả được 4.000.000 đồng, số tiền còn lại là 19.500.000 đồng.

Dây thứ hai: Mở ngày 25/7/2020 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, dây hụi có 25 chưng, trong đó ông V có tham gia chơi 01 chưng. Sau đó ông V hốt hụi và đóng đến khi mãn ông V còn nợ bà M và ông Đ là 5.000.000 đồng.

Dây thứ ba: Mở ngày 10/02/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, dây hụi có 25 chưng, trong đó ông V có tham gia chơi 01 chưng. Sau khi đóng hụi được 14 lần thì bà M tuyên bố đình hụi, số tiền bà M còn nợ ông V là 14.000.000 đồng.

Dây thứ tư: Mở ngày 10/02/2021 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, dây hụi có 25 chưng, trong đó ông V có tham gia chơi 01 chưng. Sau khi đóng hụi được 14 lần thì bà M tuyên bố đình hụi, số tiền bà M còn nợ ông V là 14.000.000 đồng.

Tổng số tiền 3 chưng hụi sống bà M và ông Đ còn nợ ông V là 47.500.000 đồng, đối trừ số tiền hụi chết 5.000.000 thì bà M và ông Đ còn nợ ông V là 42.500.000 đồng. Sau khi tuyên bố đình hụi ông Đ và bà M trả ông V được thêm 7.000.000 đồng, số tiền còn lại ông Đ và bà M còn nợ ông V là 35.500.000 đồng.

Nay ông V yêu cầu Toà án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết buộc bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho ông V số tiền nợ hụi là 35.500.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và chồng bà là ông Võ Quốc Đ làm chủ hụi ở địa phương, đến tháng 3 năm 2022 âm lịch bà và ông Đ đình hụi do các hụi viên hốt hụi rồi không đóng lại cho bà và ông Đ. Tính đến ngày đình hụi bà và ông Đ còn nợ ông V số tiền hụi là 42.500.000 đồng. Sau đó bà trả cho ông V được 7.000.000 đồng, số tiền bà và ông Đ hiện tại còn nợ ông V là 35.500.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Bà được Thẩm phán cho xem lại đơn khởi kiện của ông V, theo đơn khởi kiện của ông V trình bày về ngày mở hụi, loại hụi, số chưng hụi của từng dây, số chưng hụi của ông V tham gia và số tiền từng dây hụi bà và ông Đ còn nợ ông V là đúng.

Nay bà đồng ý trả cho ông V số tiền nợ hụi là 35.500.000 đồng, tuy nhiên hiện tại gia đình khó khăn nên xin được trả dần cho ông V. Việc mở hụi thì bà và ông Đ cùng tham gia làm chủ hụi.

Đối với bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập bà M và ông Đ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà M và ông Đ vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn V đối với bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ, buộc bà M và ông Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho ông V số tiền nợ hụi 35.500.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà M và ông Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn V với bị đơn bà Nguyễn Thị M là “Tranh chấp nợ hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị M có địa chỉ tại ấp Tân Hiệp, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy đinh tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà M và ông Đ vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với bà M và ông Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án:

Ông Nguyễn Văn V yêu cầu bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi 35.500.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bà Nguyễn Thị M thừa nhận bà M và ông Đ còn nợ ông V số tiền nợ hụi 35.500.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) và đồng ý trả cho ông V. Đây là tình tiết được các bên đương sự thừa nhận nên không phải chứng minh, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, ông V yêu cầu bà M trả số tiền nợ hụi 35.500.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu của ông V về việc buộc ông Võ Quốc Đ có nghĩa vụ liên đới trả nợ: Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bà Nguyễn Thị M trình bày, việc mở hụi thì bà M và ông Đ cùng tham gia làm chủ hụi. Do đó, ông V yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ liên đới cùng với bà M trả nợ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ các phân tích đánh giá nêu trên, có đủ cở sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V đối với bà M và ông Đ. Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đ số tiền nợ hụi là 35.500.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng)

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tại phiên toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V nên bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.775.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Các Điều 357, 471, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn V đối với bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn V số tiền nợ hụi 35.500.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng)

Kể từ ngày ông V có đơn yêu cầu thi hành án, bà M và ông Đ không thi hành khoản tiền nêu trên thì bà M và ông Đ phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.775.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Ông Nguyễn Văn V không phải chịu án phí, ông V có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 888.000 đồng (Tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008627 ngày 05/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai ông Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị M và ông Võ Quốc Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ