vanban.org

Bản án 73/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đào Văn T cho UBND x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:73/2022/HSST
Ngày: 06/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Hải.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 06/07/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/QĐXX-ST ngày 23/06/2022 đối với bị cáo:

Đào Văn T, sinh năm 1998; tại Sóc Sơn - Hà Nội; trú tại: Thôn Hoà Bình, xã TG, huyện SS, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa lớp: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn T (đã chết) và bà Trần Thị T; bị cáo có vợ là Lò Thị T, vợ chồng có 01 con chung sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/01/2022 đến ngày 28/01/2022 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Đắc B, sinh năm 1957;

Trú tại: TDP CTg, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987;

Trú tại: TDP ĐK, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

(Ông B, ông Đ đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 21/01/2022, tổ công tác của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Công an xã (nay là phường) Thuận Thành, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường Thuận Thành thì phát hiện Đào Văn T đang đứng cạnh một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, trên yên xe mô tô có để một thùng bìa cát tông. Nhận thấy T có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T khai nhận: Thùng bìa cát tông để trên yên xe mô tô bên trong có chứa 05 hộp pháo là của T, T mang đi để chuyển cho người mua pháo. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ chiếc xe mô tô, niêm phong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus và 05 vật hình khối bên ngoài bọc giấy màu đỏ có nhiều hoa văn chữ nước ngoài thu giữ của Tới theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Văn T tại thôn HB, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội phát hiện, thu giữ: 01 quả (nghi là pháo nổ) dạng bóng đèn, phần hình trụ gói ngoài bằng giấy màu vàng có gắn dây màu xanh, phần đầu tròn được gói ngoài bằng giấy màu nâu.

Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng đối với 05 vật hình khối hộp và 01 quả dạng bóng đèn (nghi là pháo nổ) thu giữ của Đào Văn T, kết quả: 05 vật hình khối hộp có tổng khối lượng 7,5kg; 01 quả dạng bóng đèn có khối lượng 35,64gam. Cơ quan điều tra đã niêm phong 05 vật hình khối hộp trong một thùng cát tông ký hiệu A1 và 01 quả dạng bóng đèn trong một bì thư ký hiệu B1 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 294/KL-KTHS ngày 26/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:

- 05 (năm) vật hình khối hộp có đặc điểm giống nhau, kích thước (14,3x14,5x14,7)cm, bên ngoài có bọc giấy màu đỏ có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ có đường kính 2,4cm (hai phẩy bốn centimet), chiều dài 14,7cm (mười bốn phẩy bẩy centimet), tổng khối lượng là 7,5kg (bẩy phẩy năm kilogam), tất cả được niêm phong trong một thùng cát tông có dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên và các chữ ký liên quan, ký hiệu A1 là pháo nổ (pháo hoa nổ);

- 01 (một) quả dạng bóng đèn có phần hình trụ có đường kính 2,7cm (hai phẩy bẩy centimet) chiều dài 3cm (ba centimet) được gói bằng giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài và có gắn dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1cm (bốn phẩy một centimet) được gói bằng giấy màu nâu, có khối lượng là 35,64g (ba mươi lăm phẩy sáu bốn gam), được niêm phong trong một bì thư có dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên và các chữ liên quan ký hiệu B1 là pháo nổ (pháo hoa nổ). Đã giám định hết mẫu vật gửi giám định.

Tại cơ quan điều tra Đào Văn T khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/01/2022, T đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi qua mạng xã hội của một người nam giới tên P (T chỉ biết P ở Thái Nguyên nhưng không rõ thông tin cá nhân của P), P nhờ T mua pháo nổ hộ và hứa sẽ trả công cho T. Do đang cần tiền tiêu xài cá nhân nên T đã đồng ý và lên mạng xã hội Facebook đặt mua 05 hộp pháo với giá 600.000 đồng/1 hộp. Ngày hôm sau, P đến gặp và đưa cho T số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) để mua pháo. Đến khoảng 07 giờ ngày 21/01/2022 T đi xe mô tô nhãn hiệu Wave có biển kiểm soát 88H9 - 1565 đi đến khu vực bến xe thuộc xóm Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, gặp một người nam giới (T không biết người này là ai) đã giao cho T 01 thùng bìa cát tông, bên trong có chứa 05 hộp pháo là số pháo mà T đặt mua từ trước, T đã đưa số tiền 3.000.000 đồng là số tiền mà T đã nhận từ P cho người nam giới trên. Sau khi mua được pháo, T gọi điện cho P để giao pháo thì P tiếp tục nhờ T vận chuyển số pháo trên cho người nam giới tên T (T không biết T là ai) và bảo T thu hộ 7.500.000 đồng, P tiếp tục hứa sẽ trả công cho T. Đến 11 giờ 40 phút ngày 21/01/2022, T gọi điện cho T, bảo T vận chuyển pháo đến khu vực cổng chào đường Quốc lộ 3 thuộc địa phận xóm (nay là tổ dân phố) Công Thương, xã (nay là phường) Thuận Thành, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. T đồng ý và chở 05 hộp pháo đến địa điểm T đã hẹn gặp, khi đang đứng chờ T đến lấy pháo thì T bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Mục đích T vận chuyển pháo nổ giúp P là lấy tiền công, ngoài ra không có mục đích gì khác. Đối với 01 quả dạng bóng đèn lực lượng Công an thu giữ tại nhà của T, T khai là pháo nổ của T, T mua qua mạng xã hội để chơi tết, T không nhớ người bán cho mình là ai.

Tại bản cáo trạng số: 66/CT - VKSPY ngày 11/05/2022, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đào Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Đào Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. T thừa nhận khoảng 11 giờ 45 phút ngày 21/01/2022, Đào Văn T đã có hành vi vận chuyển hộ đối tượng tên P (không rõ họ tên địa chỉ của P ở đâu, P hứa sẽ trả công vận chuyển cho T) 05 hộp pháo nổ từ khu vực xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đến xóm (nay là tổ dân phố) Công Thương, xã (nay là phường) Thuận Thành, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Khi T đang đứng tại khu vực trên để chờ T đến lấy pháo nổ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu ở trên.

Kết thúc phần thẩm vấn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm” Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu xung quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE, màu xanh, BKS 88H9-1565, số máy VLF1P52FMH360120798, số khung RL8WCH6HY61020798 xe cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi điện thoại di động (bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S màu xám có lắp sim số thuê bao 0583108368; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận ra được việc làm của mình là sai, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người làm chứng anh B, anh Đ tại phiên toà. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có lời khai của những người này. Tại phiên toà bị cáo, kiểm sát viên, đều đề nghị xét xử vắng mặt họ. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 18/01/2022, Đào Văn T được một đối tượng tên P (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) liên hệ nhờ mua hộ 05 hộp pháo nổ. Đến ngày 21/01/2022, sau khi T mua được 05 hộp pháo nổ có tổng khối lượng 7,5kg với giá 3.000.000 đồng thì đối tượng P tiếp tục nhờ T vận chuyển 05 hộp pháo nổ trên từ khu vực xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đến xóm (nay là tổ dân phố) Công Thương, xã (nay là phường) TT, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để giao cho đối tượng tên là T (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể), P hứa sẽ trả công vận chuyển cho T. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 21/01/2022, khi T đang đứng tại khu vực trên để chờ T đến lấy pháo nổ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số vật chứng là 7,5kg pháo nổ. Như vậy hành vi nêu trên của Đào Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Do đó Bản cáo trạng số: 66/CT-VKSPY ngày 11/05/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo T về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 191 Bộ luật hình sự có nội dung:

1. Người nào... vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông, kinh doanh trên thị trường, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Về nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo muốn kiếm tiền một cách nhàn hạ nhưng bất chính nên đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, được gia đình nuôi ăn học đến lớp 8 thì nghỉ học, do muốn kiếm tiền một cách nhàn hạ nhưng bất chính nên dẫn đến việc phạm tôi. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Tới còn có ông, bà nội là người có công với Nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, nên cho bị cáo Tới được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng do vậy có căn cứ để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, lời thỉnh cầu của bị cáo, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương mà không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội vẫn có thể cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, làm ăn lương thiện được.

Mức hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên toà là phù hợp được chấp nhận.

.Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra bị cáo phạm tội mang tính chất vụ lợi thì ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước mới đúng. Tuy nhiên tại phiên toà xác định bị cáo mới xây dựng gia đình, vợ bị cáo mới sinh con và hai vợ chồng ở chung cùng gia đình, bị cáo khó khăn và không có tài sản riêng gì, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

. Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE, màu xanh, BKS 88H9-1565,

số

máy

VLF1P52FMH360120798,

số

khung RL8WCH6HY61020798 xe cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi điện thoại di động (bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S màu xám có lắp sim số thuê bao 0583108368. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo xác định đây là tài sản của riêng bị cáo, bị cáo đã sử dụng xe làm phương tiện để vận chuyển pháo và điện thoại để liên hệ việc vận chuyển pháo. Đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu để xung quỹ Nhà nước.

Đối với 05 hộp pháo nổ và 01 quá pháo nổ dạng bóng đèn thu giữ của Đào Văn T. Quá trình giám định cơ quan giám định đã sử dụng hết mẫu vật gửi giám định, nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Các vấn đề khác: Quá trình điều tra chưa xác định được người nhờ Đào Văn T vận chuyển pháo nổ, người bán pháo nổ cho T và người mua pháo nổ nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau. 01 quả pháo dạng bóng đèn có khối lượng là 35,64g thu giữ tại chỗ ở của Tới, T khai là pháo của T mua về để chơi Tết, Cơ quan điều tra đã tiến hành sao y tài liệu liên quan để chuyển Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền. Ngoài ra quá trình điều tra T khai vào tháng 11/2021, T có hành vi mua hộ P01 hộp pháo với giá 500.000 đồng và được P trả công 500.000 đồng, nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm cụ thể thực hiện hành vi. Cơ quan điều tra không xác định được thêm các tình tiết liên quan nên không tiến hành xử lý hành vi trên của T là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Văn T cho UBND xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu xung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE, màu xanh, BKS 88H9-1565, số máy VLF1P52FMH360120798, số khung RL8WCH6HY61020798 xe cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi điện thoại di động (bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S màu xám có lắp sim số thuê bao 0583108368.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 09/5/2022).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đào Văn T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Tới báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ