vanban.org

Bản án 73/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX Hương Thuỷ, TP. Huế Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”;

Về trách nhiệm hình sự: Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoàng Đăng và đồng phạm - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HT
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HS-ST
Ngày: 06/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HT, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trọng Thơi và ông Mai Đại Trọng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã HT.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã HT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Võ Hoàng Đ (Tên gọi khác: Tốp), sinh ngày 18/11/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số nhà 24/3/263 đường BT, phường PH, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đình Hvà bà Lê Thị Ngọc D; vợ: Sống chung như vợ chồng với Lê Thị Thu H (là bị cáo trong cùng vụ án), con: Chưa có; nhân thân: Ngày 05/01/2017, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi cầm cố tài sản không có giấy ủy quyền của chủ sở hữu (Quyết định số: 045792);

Tiền án: 01 (Ngày 19/6/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 99/2020/HS-ST ngày 19/6/2020) đến ngày 26/3/2021 chấp hành xong án phạt tù). Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022 cho đến nay, có mặt.

2. Lê Thị Thu H (Tên gọi khác: Uyên), sinh ngày 02/8/1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn BL, xã TB, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Trần Thị Thu M; chồng: Sống chung như vợ chồng với Võ Hoàng Đ (là bị cáo trong cùng vụ án), con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008;

Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị Â, sinh năm 1988, địa chỉ: Số 91B đường TT, phường AT, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Đỗ Đăng H, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ 3, phường TD, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trước đó Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H (chung sống với nhau như vợ chồng) đã từng vận chuyển trái phép chất ma túy cho một người phụ nữ tên “P” (bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch) để nhận tiền công; nên vào khoảng 23 giờ ngày 25/5/2022, khi Đ và H đang ở cùng nhau tại phòng trọ thì Đ nhận được điện thoại của “P” từ số thuê bao 0834.017.446 gọi vào điện thoại của Đ số thuê bao 0904.194.203 thuê Đ đến khu vực cầu AC, thành phố H nhận ma túy để vận chuyển về nhà nghỉ I-LIKE, thuộc phường TD, thị xã HT giao cho người mua thì được Đ đồng ý. Một lúc sau, “P” tiếp tục gọi vào điện thoại của Đ, nhưng lần này thì H nghe máy nên “P” nói Đ và H đến ngay cầu AC để lấy ma túy giao cho khách. Đ liền điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 75H1-199.54 (xe do H thuê của chị Trần Thị Â, sinh năm 1988, trú tại tổ 9, khu vực 5, phường AT, thành phố H, làm nghề kinh doanh dịch vụ cho thuê xe máy) chở H đến khu vực cầu AC thì gặp “P” đang đợi sẵn. Tại đây, “P” đưa cho Đ 01 gói ni lông màu trắng, có đường viền màu đỏ, bên trong có chứa 05 viên ma túy loại “Thuốc lắc” cùng 01 gói ni lông nhỏ bên trong có chứa ma túy loại “Khay” rồi nói với Đ mang số ma túy này về nhà nghỉ I-LIKE, giao cho một người phụ nữ lấy 4.000.000 đồng đem về cho “P” rồi nhận tiền công vận chuyển là 600.000 đồng thì Đ và H đồng ý. “P” đọc số điện thoại của người nhận ma túy cho H lưu vào máy điện thoại của mình để tiện liên hệ. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô cầm theo toàn bộ số ma túy nói trên ở tay trái, chở H đi giao cho người đặt mua. Khi cả hai vừa đi vào kiệt 2, đường Bùi Xuân P, thuộc tổ 3, phường TD, thị xã HT (phía trước nhà nghỉ I-LIKE) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã HT phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) túi ni lông màu trắng, miệng túi có đường viền màu đỏ, bên trong có chứa 05 (năm) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu xanh, được niêm phong, ký hiệu A1.

- 01 (một) túi ni lông màu trắng, bên trong có chất chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong, ký hiệu A2. (Thu giữ trên tay trái của Đ)

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát: 75H1-199.54.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5s, màu đen, số IMEI 1: 865222040931051, số IMEI 2: 865222040931044,

Tại bản Kết luận giám định số: 290/KL-KTHS ngày 30/5/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận:

- 05 (năm) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu xanh trong bì niêm phong ký hiệu A1, thu giữ của Đ gửi giám định có tổng khối lượng là 1,6757g (Một phẩy sáu bảy năm bảy gam), là ma túy, loại MDMA.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2, thu giữ của Đ gửi giám định có khối lượng là 1,3853g (Một phẩy ba tám năm ba gam), là ma túy, loại Ketamine.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm:

- 1,5257g (một phẩy năm hai năm bảy gam) mẫu bột được nghiền từ 05 (năm) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu xanh trong bì niêm phong ký hiệu A1.

- 1,2853g (một phẩy hai tám năm ba gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2. Cùng các vật liệu dùng để bao gói niêm phong khi gửi giám định.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra chứng minh Trần Thị Â cho Lê Thị Thu H thuê xe mô tô biển kiểm soát: 75H1-199.54 để làm phương tiện đi lại, việc các bị cáo dùng vào việc phạm tội chị Ân không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe cho chị Ân là có căn cứ.

Tại cáo trạng số 73/CT-VKSHTh ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT đã truy tố các bị cáo Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H , về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Ðiều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Ðiều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Hoàng Đ từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 26/5/2022.

Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Ðiều 250; điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5s, màu: Đen, số IMEI: 865222040931051, số IMEI 2: 865222040931044, bên trong có sử dụng số: 0904.194203.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Hoàng Đ, Lê Thị Thu H đều thừa nhận hành vi đã thực hiện như cáo trạng truy tố; tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử đủ cơ sở nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã HT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều khai và thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, do đó đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 26/5/2022, tại đường Bùi Xuân P, thuộc tổ 3, phường TD, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế; Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H đang vận chuyển trái phép 1,6757 gam (một phẩy sáu bảy năm bảy gam), là ma túy, loại MDMA và 1,3853 gam (một phẩy ba tám năm ba gam), là ma túy, loại Ketamine cho người khác để nhận 600.000 đồng tiền công thì bị Cơ quan công an thị xã HT phát hiện, bắt quả tang.

Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H vận chuyển trái phép 02 chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự, nên việc tính tổng khối lượng để xác định tình tiết định khung hình phạt được tính như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng MDMA trong vụ án so với mức tối thiểu MDMA quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự là: (1,6757g/05g) x 100 = 33,514%.

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine trong vụ án so với mức tối thiểu Ketamine quy định tại điểm m khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự là: (1,3853g/20g) x 100 = 6,9265%.

Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự là: 33,514% + 6,9265% = 40,4405% (thuộc trường hợp dưới 100%), nên hành vi của Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H đều đã phạm vào tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT truy tố các bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i khoản 1 Ðiều 250 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội, việc vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi bị nghiêm cấm, nhưng vì bản tính lười lao động, xem thường pháp luật mà các bị cáo vẫn thực hiện hành vi trái phép để kiếm lợi bất chính. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm các bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn; trong đó, Võ Hoàng Đ là người trực tiếp liên lạc chính với các đối tượng thuê vận chuyển và nhận ma túy, Đ cũng là người cầm ma túy trên tay để vận chuyển đến chỗ giao hàng. Lê Thị Thu H là người tích cực thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy cùng với Đ khi nhận điện thoại từ đối tượng “P”, lưu lại số điện thoại người nhận ma túy, cùng với Đ đến lấy ma túy và vận chuyển đi giao ma túy cho đối tượng “P”. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang này, các bị cáo khai nhiều lần vận chuyển thuê ma túy cho đối tượng tên “P” tuy nhiên chưa đủ căn cứ để xử lý các bị cáo về các hành vi phạm tội trước đó, nhưng cũng cần xem xét đánh giá thái độ chấp hành pháp luật, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo, giúp các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Bị cáo Võ Hoàng Đ có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mới chấp hành xong hình phạt nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, lần này bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Thị Thu H có thân nhân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Bị cáo Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Lê Thị Thu H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: người phạm tội là phụ nữ có thai theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với đối tượng có tên “P”, người đã thuê các bị cáo vận chuyển trái phép chất ma túy, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với người phụ nữ đã đặt mua ma túy từ đối tượng “P” và được “P” thuê Đ và H vận chuyển ma túy đến giao, hiện Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy cho “P” trước đó của Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H , do quá trình điều tra không xác định được thời gian, địa điểm, chất ma túy…, nên không có đủ căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Phan Văn Hòa, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Trần Nam, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và dòng chữ: “Hoàn mẫu vật vụ Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H , bắt ngày 26/5/2022”; bên trong có chứa: 1,5257g (một phẩy năm hai năm bảy gam) mẫu chất bột được nghiền ra từ gói niêm phong ký hiệu A1, 1,2853g (một phẩy hai tám năm ba gam) mẫu chất bột được nghiền ra từ gói niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định cùng với các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) gói niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong, bên ngoài có 01 (một) chữ ký ghi họ tên Phan Văn Hòa, 01 (một) chữ ký ghi họ tên Võ Hoàng Đ, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã HT và dòng chữ: “Điện thoại di động của Võ Hoàng Đ”. Bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5s, màu: Đen, số IMEI: 865222040931051, số IMEI 2: 865222040931044, bên trong có sử dụng số: 0904.194203, mật khẩu mở khóa màn hình: 999999.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã HT và Chi cục thi hành án dân sự thị xã HT).

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát: 75H1-199.54 là tài sản các bị cáo thuê của chị Trần Thị Â, chị Ân không biết việc các bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội do đó Cơ quan Điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nói trên cho chị Ân là có căn cứ. Chị Ân không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”;

2. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm i khoản 1 Ðiều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Hoàng Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 26/5/2022.

Áp dụng điểm i khoản 1 Ðiều 250; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 02 (hai) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Phan Văn Hòa, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Trần Nam, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và dòng chữ: “Hoàn mẫu vật vụ Võ Hoàng Đ và Lê Thị Thu H , bắt ngày 26/5/2022”; bên trong có chứa: 1,5257g (một phẩy năm hai năm bảy gam) mẫu chất bột được nghiền ra từ gói niêm phong ký hiệu A1, 1,2853g (một phẩy hai tám năm ba gam) mẫu chất bột được nghiền ra từ gói niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định cùng với các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) gói niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong, bên ngoài có 01 (một) chữ ký ghi họ tên Phan Văn Hòa, 01 (một) chữ ký ghi họ tên Võ Hoàng Đ, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã HT và dòng chữ: “Điện thoại di động của Võ Hoàng Đ”. Bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A5s, màu: Đen, số IMEI: 865222040931051, số IMEI 2: 865222040931044, bên trong có sử dụng số: 0904.194203, mật khẩu mở khóa màn hình: 999999.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã HT và Chi cục thi hành án dân sự thị xã HT).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Võ Hoàng Đ, Lê Thị Thu H , mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết/tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ