- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy L phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HS-ST Ngày 29/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Hòa.
Ông Đào Duy Chuyên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Huy L, sinh ngày 30/8/1994 tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Thôn Nh, xã Th, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Huy Bình (đã chết) và con bà Đinh Thị Sáng; Vợ: Lê Ánh Ngọc, sinh năm 2002; con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1. Bị hại: Chị Phạm Thị Thu, sinh năm 1982. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Ích Hạ, xã Hoằng Qùy, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
2. Người làm chứng: Anh Phạm Thanh Sơn, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Bản Thành, xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20’ ngày 14/6/2022, Nguyễn Huy L điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu đỏ đen, biển số: 36F1 – 385.77 từ ngã tư Nghĩa Trang, xã Hoằng Kim về nhà ở xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc. Khi đi đến ngã tư lối vào UBND xã Hoằng Sơn (cũ) thấy chị Phạm Thị Thu, ở xã Hoằng Quỳ mặc quần áo mưa đi xe máy một mình từ hướng thôn Bản Thành về phía thôn Cẩm Lũ. Nguyễn Huy L nảy sinh ý định trêu ghẹo sàm sỡ nên đi theo phía sau. Khi đi cách ngã tư khoảng mấy chục mét, L điều khiển xe vượt lên ngang bên trái xe của chị Thu, đồng thời đưa tay phải sờ với vào ngực bên trái của chị Thu. Chị Thu dừng xe chửi “mày làm gì vậy” thì L nói “Tôi thích”, đồng thời điều khiển xe quay lại xuống xe. Chị Thu bỏ xe chạy về hướng ngã tư, vừa chạy vừa hô la “bớ người ta, cướp, cướp”. L chạy đuổi theo túm được mũ áo mưa giữ chị Thu lại và vật chị Thu ngồi xuống đường rồi thò tay vào ngực sờ thì bị chị Thu gạt ra. Đúng lúc đó có ánh đèn xe đi từ hướng thôn Bản Thành lại nên L bỏ chạy lại xe máy rồi lên xe đi về hướng thôn Cẩm Lũ. Khi đến ngã ba L dừng xe đứng quan sát thấy ánh đèn xe máy đi qua và thấy chị Thu đang cầm điện thoại, L đi xe lại để tiếp tục sàm sỡ chị Thu, nhưng khi lại đến gần vị trí xe thì chị Thu bỏ chạy về phía ngã tư, vừa chạy vừa hô la “cứu tôi với, cướp, cướp” L xuống xe đuổi theo. Lúc chị Thu chạy đến ngã tư hướng rẽ vào UBND xã Hoằng Sơn (cũ) thì L đuổi kịp túm vào cổ áo phía sau gáy lôi lại, chị Thu vằng ra thì bị L dùng tay ghì chị ngã ngửa xuống đất. L tiếp tục sờ vào trong ngực thì bị chị Thu gạt tay ra và cắn vào tay, L đấm một cái vào vùng mũi chị Thu bị chảy máu. Trong khi L đang giữ hai tay và đè chị Thu nằm ở dưới đường thì thấy chiếc điện thoại của chị Thu rơi ra đang nằm dưới đường nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, L thả tay chị Thu ra, lấy chiếc điện thoại, bỏ chạy lên xe máy để điện thoại vào gác xe phía trên vị trí đổ xăng rồi về nhà ở xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, cất điện thoại vào tủ quần áo.
Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chị Phạm Thị Thu đến Công an xã Hoằng Sơn trình báo, đồng thời giao nộp 01 chiếc áo mưa bằng nilong màu xanh dương đã qua sử dụng, 01 chiếc quần mưa bằng nilong màu xanh dương đã qua sử dụng, bị rách.
Đến 16h ngày 15/6/2022 Nguyễn Huy L đến Công an huyện Hoằng Hoá đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội, giao nộp : 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu đỏ đen xám, biển kiểm soát 36F1-385.77, số máy JF94E0114859, số khung 633XLZ046379 (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm dạng mũ thời trang màu đen có hai màu trắng đỏ từ trước về sau; 01 bộ quần áo mưa (gồm quần và áo) bằng vải dù dạng bộ áo mưa quân nhu.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Huy L ở thôn Nhuệ Thôn xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, thu giữ: 01 điện thoại di động Oppo A1K mầu đỏ có số IMEI 1: 861795049213294, số IMEI 2: 861795049213286 (điện thoại đã qua sử dụng) bên trong điện thoại có gắn sim có số sêri 8984048008825367439; 01 ốp nhựa dẻo; 01 tờ tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành có mệnh giá 10.000đ, tờ tiền có số seri WF19007881 (tờ tiền nằm sau điện thoại trong ốp).
Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Hoằng Hoá: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A1K mầu đỏ đã qua sử dụng, điện thoại có số IMEI 1: 861795049213294, số IMEI 2: 861795049213286 có giá trị là 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng); 01 (một) ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo có giá trị là 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 1.220.000đ (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 69/CTr -VKSHH ngày 28 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy L về tội “Cướp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Huy L từ 04 đến 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2022.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ đã qua sử dụng, điện thoại có số IMEI 1: 861795049213294, số IMEI 2: 861795049213286, Cơ quan CSĐT trả lại cho chị Phạm Thị Thu nên không xem xét giải quyết.
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu đỏ đen xám, biển kiểm soát: 36F1 – 385.77, số máy: JF94E0114859, số khung: 633XLZ046379;
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm (dạng mũ thời trang) màu đen có hai màu trắng đỏ từ trước về sau; 01 (một) bộ quần áo mưa bằng vải dù dạng bộ áo mưa quân nhu; 01 (một) chiếc áo mưa và quần mưa bằng nilong màu xanh đã qua sử dụng, bị rách.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Bị cáo đồng ý, do đó, chấp nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 69/CT-VKSHH ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi thực hiện tội phạm: Vào khoảng 20 giờ 20’ ngày 14/6/2022 tại khu vực thôn Bản Thành xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hoá, Nguyễn Huy L đã dùng vũ lực chiếm đoạt của chị Phạm Thị Thu 01 điện thoại Oppo A1K màu đỏ (đã qua sử dụng), có ốp lưng bằng nhựa dẻo trị giá 1.220.000đ (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng), bên trong ốp lưng có 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ. Tổng trị giá tài sản L chiếm đoạt của chị Thu là 1.230.000đ (Một triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).
Hành vi dùng vũ lực làm cho chị Thu lâm vào tình trạng không thể chống cự được, để chiếm đoạt tài sản đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Huy L về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây tâm lý hoang mang cho nhiều gia đình, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
. Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội nhận thức được hành vi vi phạm bị cáo đã đến cơ quan điều tra Công an huyện đầu thú, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Bị cáo đồng ý yêu cầu của bị hại. Do đó, chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại về phần dân sự.
Về vật chứng: Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ đã qua sử dụng, điện thoại có số IMEI 1: 861795049213294, số IMEI 2: 861795049213286, Cơ quan CSĐT trả lại cho chị Phạm Thị Thu nên không xem xét giải quyết.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu đỏ đen xám, biển kiểm soát: 36F1–385.77, số máy: JF94E0114859, số khung: 633XLZ046379 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm (dạng mũ thời trang) màu đen có hai màu trắng đỏ từ trước về sau, 01 (một) bộ quần áo mưa bằng vải dù dạng bộ áo mưa quân nhu là trang phục của Nguyễn Huy Linh sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) chiếc áo mưa và quần mưa bằng nilong màu xanh đã qua sử dụng, bị rách của chị Phạm Thị Thu không còn giá trị sử dụng và không đề nghị nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 21; điểm a,f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy L phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy L: 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2022.
Về dân sự: Căn cứ Điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật dân sự, bị cáo Nguyễn Huy L phải bồi thường cho chị Phạm Thị Thu số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
Vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu đỏ đen xám, biển kiểm soát: 36F1 – 385.77, số máy: JF94E0114859, số khung: 633XLZ046379.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm (dạng mũ thời trang) màu đen có hai màu trắng đỏ từ trước về sau; 01 (một) bộ quần áo mưa bằng vải dù dạng bộ áo mưa quân nhu; 01 (một) chiếc áo mưa và quần mưa bằng nilong màu xanh đã qua sử dụng, bị rách.
( Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 04 /BBGN ngày 25/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Huy L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa. - VKSND huyện Hoằng Hóa. - Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa. - Cơ quan THA hình sự huyện Hoằng Hóa. - Chi cục THA dân sự huyện Hoằng Hóa. - Bị cáo; Bị hại. - Nhà tạm giữ Công an huyện Hoằng Hóa. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phƣơng |