- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 6 – 2022 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Liệt.
2. Ông Ngô Văn Khon.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 27 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1989.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987.
Cùng địa chỉ cư trú: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ.
Chị Nguyễn Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Hữu T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Hữu T xác lập quan hệ hôn nhân năm 2009 và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đ vào ngày 07/6/2010. Hôn nhân giữa chị V và anh T được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu và kết hôn.
Trong khoảng thời gian sống chung, anh, chị không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, cãi vã. Anh T không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, tính tình không còn hòa hợp nhau, chị V có nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị V và anh T bắt đầu sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Khoảng thời gian sống ly thân chị V và anh T có hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.
Chị Nguyễn Thị V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Chị V và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 14/4/2010 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/6/2013 (Hiện đang sống chung với anh T). Chị V thống nhất giao 02 con chung cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị V tự nguyện cấp dưỡng cho cháu K và cháu Thư với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là ½ tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại từng thời điểm. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2022 cho đến ngày cháu K và cháu T thành niên và có khả năng lao động.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Hữu T không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Đơn khởi kiện (Bản chính); Đơn xin xác nhận nơi cư trú của người bị kiện (Bản chính); Xác nhận thông tin về nơi cư trú (Bản photo); Trích lục khai sinh của Nguyễn Anh T (Bản sao); Trích lục khai sinh của Nguyễn Thiên K (Bản sao); Trích lục kết hôn (Bản sao); Giấy chứng minh nhân dân của chị Nguyễn Thị V (Bản sao); Bản khai của chị Nguyễn Thị V ngày 06/5/2022 (Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu T cư trú tại số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Hữu T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị V, anh T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Xét thấy, chị V và anh T xác lập quan hệ hôn nhân năm 2009, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đ vào ngày 07/6/2010, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không hòa hợp trong cuộc sống. Anh T không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, tính tình không còn hợp nhau, chị V có nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Ngoài ra, anh, chị không còn sống chung từ đầu năm 2018 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân anh, chị có hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thành. Hơn nữa, chị V xác định, chị V và anh T không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không tạo điều kiện để cho nhau phát triển về mọi mặt.
Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Nguyễn Thị V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị V thống nhất giao 02 con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 14/4/2010 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/6/2013 cho anh Nguyễn Hữu T được trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy, kể từ khi ly thân cháu K và cháu T hiện nay đang sống chung với anh T. Anh T là người đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại bản khai 06/5/2022, cháu K và cháu T có nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với anh T. Tại bản khai ngày 06/5/2022, chị V thống nhất giao cháu K và cháu T cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng, chị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống, để đảm bảo cho cháu K và cháu T phát triển toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần cần giao cháu Nguyễn Thiên K, sinh ngày 14/4/2010 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/6/2013 cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị V tự nguyện cấp dưỡng cho cháu K và cháu T với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là ½ tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại từng thời điểm cho đến ngày cháu K và cháu T thành niên và có khả năng lao động. Xét thấy, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên. Do đó, chị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V xác định là không có, không yêu cầu giải quyết. Anh T không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 14/4/2010 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/6/2013 cho anh Nguyễn Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị V và anh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Nguyễn Thiên K, sinh ngày 14/4/2010 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/6/2013, với mức cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi con chung là ½ mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại từng thời điểm. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2022 đến khi cháu K và cháu T thành niên và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung và tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0010048 ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Nguyễn Thị V phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - CC THA DS huyện Thanh Bình; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã T, huyện T, tỉnh Đ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Trung |