vanban.org

Bản án 73/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Cẩm H đối với ông Nguyễn Quốc T về yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Cẩm H ly hôn Nguyễn Quốc T"
  • Tòa quyết gì? 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Đông

Bà Trần Thị Chiếm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố T, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà

Trương Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành

phố T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 107 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Cẩm H, sinh năm 1975

Địa chỉ: số 1065 Nguyễn Tất T, Tổ 1, Khu phố 1, phường L, thị xã P, tỉnh

Bình Phước, vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1974

Địa chỉ: số 280 Nguyễn Huỳnh Đ, phường K, thành phố T, tỉnh Long An,

vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10 tháng 6 năm 2022 và tại bản tự

khai ngày 10/6/2022, nguyên đơn bà Bùi Thị Cẩm H trình bày: Bà và ông Nguyễn Quốc T tự nguyện kết hôn vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được 16 năm và có 02 con chung. Sau đó liên tục phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, bà và ông T thường xuyên gây gỗ, nhiều lần tranh cãi với nhau vì vậy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không quan tâm chăm sóc như trước đây, bà và ông T chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2018 cho đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc A, sinh ngày

02/02/2003 (đã thành niên) và Nguyễn Thị Như N, sinh ngày 12/11/2006, hiện đang sống chung với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Nguyễn Thị Như N, sinh ngày 12/11/2006, không yêu cầu ông Nguyễn Quốc T cấp dưỡng nuôi con chung

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn ông Nguyễn Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo

về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng ông T vắng mặt không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình tố tụng, bà Bùi Thị Cẩm H có đơn đề nghị xét xử vắng

mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa

phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét

xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác

có trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa bà H và ông T có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận, trong thời gian chung sống cả hai phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2018 đến nay. Trong quá trình thụ lý vụ án, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện việc bà H khởi kiện xin ly hôn nhưng ông T vắng mặt không có ý kiến. Mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T.

Về yêu cầu nuôi con: Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia

đình , đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Như N, sinh ngày 12/11/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu N và để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần của các cháu, tránh thay đổi về môi trường sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Bà Bùi Thị Cẩm H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông

Nguyễn Quốc T. Ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú ở phường K, thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố T thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

[1.2 ] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến

hành xác minh nơi cư trú của bị đơn. Tại kết quả trả lời ngày 31/8/2022, Công an phường K, thành phố T, tỉnh Long An xác định bị đơn ông Nguyễn Quốc T có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa phương nên Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự đối với bị đơn, nhưng bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung :

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Cẩm H và ông Nguyễn Quốc T tự

nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 4 năm 2002 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, bà H và ông T chung sống hạnh phúc được thời gian đầu

và có 02 con chung, phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, cả hai không còn tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không còn thương yêu, chia sẽ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2018 đến nay, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại kết quả trả lời ngày 19/9/2022, Ủy ban nhân dân phường K, thành phố

T, tỉnh Long An xác định không nắm được nguyên nhân phát sinh tranh chấp vợ chồng của bà H và ông T.

Sau khi thụ lý vụ án, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng thể hiện việc bà H xin ly hôn nhưng ông T không có ý kiến, thể hiện ý chí không muốn đoàn tụ với bà H. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông T.

[2.2] Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn

Quốc A, sinh ngày 02/02/2003 (đã thành niên) và Nguyễn Thị Như N, sinh ngày 12/11/2006, hiện đang sống chung với bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Như N, sinh ngày 12/11/2006 cho bà tiếp tục nuôi dưỡng.

Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Như N đang sống chung với bà H, được nuôi

dưỡng, chăm sóc chu đáo, ông T đã không còn sống chung nhà với bà H và không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 08/7/2022 của Tòa án, cháu N có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Để đảm bảo sự phát triển ổn định, bình thường về mọi mặt của cháu N nên chấp nhận yêu cầu của bà H. Tiếp tục giao Nguyễn Thị Như N cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng

nuôi con nên không xem xét đề cập.

Trong trường hợp sau khi ly hôn các đương sự có tranh chấp về người

trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

[3] Phát biểu của kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và

yêu cầu nuôi con chung của bà H là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo

quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39,

Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Cẩm H đối với

ông Nguyễn Quốc T về yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con chung.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Cẩm H được ly hôn với ông Nguyễn

Quốc T.

- Về con chung: Bà Bùi Thị Cẩm H được trực tiếp nuôi dưỡng con

chung chưa thành niên tên Nguyễn Thị Như N, sinh ngày 12/11/2006.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Bùi Thị Cẩm H về việc không yêu cầu

ông Nguyễn Quốc T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm

sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo luật định.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi

con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

3. Về án phí: Bà Bùi Thị Cẩm H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án

phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Bùi Thị Cẩm H đã nộp theo biên lai thu số 0001710 ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An sang thi hành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Long An;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tp. T;

- Chi cục THADS tp. T;

- UBND phường K, TP.T;

- Các đương sự;

- Lưu: HS, AV.

Nguyễn Thị Diễm Hằng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hải Trịnh Thị Lệ Hoa

Nguyễn Thị Diễm Hằng

Cỡ chữ