vanban.org

Bản án 73/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 15; Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 2/ Xử buộc vợ chồng bà HTT và ông TCQ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà NTCV số tiền là 148.260.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vân - Thúy"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 15; Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/DS-ST
Ngày: 27/12/2022
“V/v tranh chấp nghĩa vụ thanh toán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH- TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Hoàng Mỹ Dung.

2/ Ông Nguyễn Văn Thiện.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Ngày 27/12/2022, tại Hội trường xử án, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 230/2022/TLST-DS, ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2022/QĐST-DS ngày 07/12/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà NTCV, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Số A, đường CBĐ, tổ A1, khu phố A2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT. Có mặt

- Bị đơn: Bà HTT, sinh năm: 1981; Nơi cư trú: Số B, đường TBT, khu phố B1, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông TCQ, sinh năm: 1977; Nơi cư trú: Số B, đường TBT, khu phố B1, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2022, các bản khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thì việc trình bày của nguyên đơn là bà NTCV thể hiện:

Xuất phát từ quan hệ quen biết, làm ăn chung. Cụ thể bà V là người giao (hàng) trái cây cho bà T buôn bán lẻ tại chợ VX. Thực hiện giao dịch nhiều lần, bà T còn nợ bà V số tiến 148.260.000 đồng. Mặc dù đã được yêu cầu trả nợ với nhiều hình thức khác nhau, nhưng bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Cho nên, bà V đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà T, ông Q phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ gốc là 148.260.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng). Không yêu cầu tính lãi.

Theo các bản khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, biên bản hòa giải lập ngày 25/10/2022 và 14/11/2022 thì việc trình bày của bị đơn là bà HTT thể hiện: Do quen biết nên bà có thiếu tiền của bà V. Thiếu nhiều lần, cộng dồn lại nên số tiền lên đến 148.260.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng). Bà T chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Đồng ý trả số tiền nợ gốc trên cho bà V.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện ĐL tống đạt hợp lệ nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông TCQ (chồng bà T) đều vắng mặt, cố tình không tham gia bất kỳ hoạt động tố tụng nào. Tại biên bản lấy lời khai thực hiện tại nơi cư trú ngày 25/11/2022, ông Q có trình bày:

Ông và bà HTT, sinh năm: 1981 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn (con gái đầu của ông Q và bà T sinh năm 2001). Ông và bà T vẫn sống chung nhà từ năm 2001 đến nay, vợ chồng ông có 02 người con chung, 01 người con đang học đại học thể dục thể thao, còn 01 người con đang học lớp 10. Ông có biết về việc bà NTCV khởi kiện với yêu cầu buộc bà T và ông trả số tiền 148.260.000 đồng. Tuy nhiên việc bà T làm ăn với bà V thì ông không biết. Bà V có đến nhà gặp ông để yêu cầu ông thanh toán số tiền bà T nợ nhưng ông không đồng ý. Bà T đi làm có mang tiền về chăm lo cho gia đình và lo cho các con ăn học. Ông có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, bà T cũng có thông báo lại cho ông về việc bà V khởi kiện và lên Tòa án để giải quyết. Nhưng vì ông thường xuyên phải đi làm và ông cho rằng ông không liên quan đến vụ án nên ông không đến Tòa. Ông không đồng ý việc bà V khởi kiện yêu cầu ông và bà T trả số tiền là 148.260.000 đồng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện các thủ tục tố tụng như tổ chức hòa giải; mở phiên họp về việc tiếp cận; công khai chứng cứ; cấp và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà NTCV. Buộc bà HTT và ông TCQ phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 148.260.000 đồng cho bà V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu ghi trong đơn khởi kiện lập ngày 25/7/2022, các chứng cứ kèm theo của nguyên đơn thì Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán, được quy định tại Điều 351 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, bị đơn có nơi cư trú và địa chỉ cụ thể trên địa bàn huyện ĐL, tỉnh BT nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐL theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai những văn bản như: giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông TCQ nhưng ông vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ thanh toán:

Xuất phát từ chỗ quen biết nhau, là bạn hàng mua bán trái cây với nhau nên bà V có cho bà T nợ tiền hàng nhiều lần. Tính đến ngày bà V khởi kiện, thì số tiền nợ tổng cộng là 148.260.000 đồng. bà V chỉ yêu cầu bà T và ông Q phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V số tiền nợ gốc như trên, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa. Mặc dù bà T đã công nhận có nợ bà V số tiền tiền là 148.260.000 đồng và đồng ý trả số tiền này. Tuy nhiên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông TCQ không tham gia tố tụng. Cho nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định rằng số tiền bà T còn nợ và phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà V là 148.260.000 đồng.

Về nghĩa vụ liên đới:

Tại biên bản lấy lời khai đối với ông TCQ ngày 25/11/2022 thể hiện các nội dung: Ông TCQ và bà HTT là vợ chồng hợp pháp, có con chung, có tài sản chung và quan hệ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày xét xử. Tuy ông TCQ cho rằng ông không hề biết việc bà T nợ bà V. Nhưng ông công nhận bà T có buôn bán trái cây tại chợ VX để cùng phát triển kinh tế gia đình, chăm lo cho con cái. Như vậy đã đủ cơ sở để xác định được rằng ông TCQ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả số tiền nợ nói trên là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bà T phải chịu án phí DSST trên toàn bộ số tiền phải trả. Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ngày 24/11/2022, bà HTT có đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí DSST có chứng thực của chính quyền địa phương về hoàn cảnh khó khăn của bà. Do vậy HĐXX thấy cần miễn tiền án phí DSST đối với bà HTT là phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về áp dụng án lệ: Vụ án tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán giữa bà NTCV và bà HTT, Tòa án nhân dân huyện ĐL chỉ xem xét giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015. Nghiên cứu các bản án lệ do TAND Tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung của vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015;

Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 15; Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2/ Xử buộc vợ chồng bà HTT và ông TCQ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà NTCV số tiền là 148.260.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng).

Kề từ ngày bản án có hiệu lực, bà V có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền vợ chồng bà T, ông Q phải thanh toán nêu trên, thì vợ chồng bà T, ông Q còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.

3/ Về án phí: Bà T thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà NTCV không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả 3.706.000 đồng (Ba triệu bảy trăm lẻ sáu ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012430 ngày 03/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.

4/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (27/12/2022), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ