- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2021/HSST Ngày: 28-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thắm và bà Trịnh Thị Yến.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2021/TLST-HS ngày 02/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST-HS ngày 14/12/2021 đối với bị cáo:
Trần Văn V - Sinh năm 1975; sinh trú quán: Thôn 7, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Th và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 29/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 59/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù tháng 7/2021, chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
- Tháng 7/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích.
- Tháng 4/2019, bị Công an xã Nga Liên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2021 đến nay - Có mặt.
+ Người bị hại:
1/ Chị Mai Thị H - Sinh năm 1977 - Địa chỉ: Thôn Nam Lộc, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
2/ Chị Đỗ Thị H - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
+ Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Văn S - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: Thôn Nam Lộc, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt;
2/ Ông Mai Thế T - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Thôn Nam Lộc, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt;
3/ Bà Thịnh Thị V - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Thôn Nam Lộc, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt;
4/ Bà Phạm Thị Đ - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt;
5/ Anh Hoàng Văn M - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn V, là người chấp hành xong hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” tháng 7/2021 về địa phương không chịu lao động, tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua rượu và chi tiêu cá nhân. Từ cuối tháng 9/2021 đến cuối tháng 10/2021, V đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xã H và xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 9 giờ ngày 28/9/2021, Trần Văn V đang ở nhà tại thôn 7, xã L, huyện N thì anh Phạm Văn T (sinh năm 2001 ở thôn 1, xã L, huyện N là cháu ruột bên vợ của V) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đen, xe không BKS đến nhà chơi. Sau khi dựng xe mô tô ở sân nhà V, anh T đi vào trong nhà nằm ngủ. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc anh T đang nằm ngủ trong nhà, V đã lấy xe mô tô của anh T đi đến nhà anh Nguyễn Văn S (sinh năm 1975 ở thôn Nam Lộc, xã H, huyện N) để hỏi vay số tiền 200.000đ. Do anh S không có tiền nên V không vay được. Lúc này, V quan sát thấy gia đình chị Mai Thị H (sinh năm 1977 ở thôn Nam Lộc, xã H, huyện N là hàng xóm với anh S) cửa cổng mở, không có ai ở nhà, V nảy sinh ý định vào nhà chị H để trộm cắp tài sản, đem bán lấy tiền mua rượu. Trần Văn V đi bộ từ cổng vào trong nhà chị H, nhìn thấy có 01 máy bơm nước nhãn hiệu OBAMA, loại 150W, hình trụ, màu xanh đặt tại vị trí sát tường phía tây gian bếp, nên V dùng hai tay giật chiếc máy bơm trên ra khỏi ống nước, bỏ vào bao tải dứa màu trắng, đem ra để trên gác phụ xe mô tô, sau đó điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ ngày 28/9/2021, Trần Văn V bán chiếc máy bơm nước cho người phụ nữ thu mua sắt vụn (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) được 130.000đ. Số tiền trên, V đã sử dụng mua rượu uống và chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi nhận được đơn báo của chị Mai Thị H về vụ trộm tài sản trên, Công an xã H, huyện N đã triển khai lực lượng xác minh, truy tìm và xác định: Trần Văn V chính là người trộm cắp máy bơm nước của gia đình chị H vào sáng ngày 28/9/2021. Sau khi xác minh lý lịch của Trần Văn V cho thấy: Ngày 29/12/2020, V bị TAND huyện Nga Sơn xử 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 20/7/2021, chưa được xóa án tích, nên hành vi trộm cắp chiếc máy bơm nước của Trần Văn V như đã nêu ở trên, phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 ĐIều 173 BLHS. Ngày 02/11/2021, Công an xã H chuyển vụ việc nêu trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 04/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản của UBND huyện Nga Sơn kết luận: 01 máy bơm nước nhãn hiệu OBAMA loại 150W màu xanh đã cũ trị giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Theo lời khai của V, sau khi trộm cắp được tài sản Trần Văn V bán cho người phụ nữ đi mua sắt vụn không rõ tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan CSĐT đã truy tìm nhưng không xác định được.
Chị Mai Thị H không yêu cầu V phải bồi thường giá trị chiếc máy bơm nước là 300.000đ.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/10/2021, sau khi uống rượu tại nhà mình xong, Trần Văn V đi ra ngoài đường thì nhìn thấy nhà chị Đỗ Thị H sinh năm 1985 ở thôn 7, xã L, huyện N có 01 xe ô tô tải đang đỗ trước cổng, bật đèn sáng, V quan sát thấy, có một số người đang bê lồng đựng gà từ trên xe ô tô đi vào trong nhà chị H. Lúc này, Trần Văn V nảy sinh ý định trộm cắp một phần số gà của gia đình chị H, mang về nhà ăn thịt dần và bán lấy tiền mua rượu uống, nên đã đi bộ đến nấp sau cây cột điện, cách vị trí xe ô tô tải khoảng 30m để quan sát. Nhìn thấy một số người bê lồng gà đi vào trong nhà chị H, không có ai trông coi số lồng gà ở bên ngoài, V đi đến, dùng hai tay bê một lồng đựng gà đem cất giấu tại khu vực góc móng nhà bỏ không của anh Trần Văn Phong (sinh năm 1986 ở thôn 7, xã Nga Liên, huyện Nga Sưn là cháu ruột của V), ngay sát nhà mình. V kiểm tra thấy bên trong lồng có 09 con gà các loại, còn sống. Sau đó, V về nhà đi ngủ.
Đối với chị Đỗ Thị H, khi từ trong nhà đi ra chỗ để các lồng gà kiểm tra phát hiện thấy bị mất 01 lồng nhựa màu vàng, bên trong đựng 09 con gà, chị H đã đến Công an xã L, huyện N trình báo. Quá trình xác minh, Công an xã Nga Liên xác định Trần Văn V là người trộm cắp gà của gia đình chị Đỗ Thị H. Do bản thân V là đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên Công an xã Nga Liên đã báo cáo nguồn tin trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn để xác minh, giải quyết.
Sau khi nhận được báo cáo của Công an xã Nga Liên về vụ trộm cắp tài sản, vào đêm ngày 31/10/2021, tại thôn 7, xã L, huyện N. Đội CSHS Công an huyện Nga Sơn đã triển khai lực lượng xác minh, phối hợp với Công an xã Nga Liên đến nhà Trần Văn V để triệu tập, làm việc với V, nhưng V không có mặt ở nhà. Tuy nhiên, tại khu vực móng nhà bỏ không nhà anh Trần Văn Phong (ngay sát nhà Trần Văn V, không có tường rào) có 01 lồng nhựa màu vàng, bên trong có 09 con gà có lông màu xám đen, còn sống. Chị Nguyễn Thị Thanh (sinh năm 1979 ở thôn 7, xã L, huyện N là vợ của Trần Văn V) khẳng định số gà này không phải của gia đình mình, do đó chị Thanh đã tự nguyện giao nộp lồng gà trên cho lực lượng Công an. Sau khi được thân nhân động viên, thuyết phục, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản (gà) mà bản thân thực hiện vào đêm ngày 31/10/2021 là vi phạm pháp luật, nên vào lúc 19 giờ ngày 01/11/2021, Trần Văn V đến Công an xã Nga Liên xin đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 04/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản của UBND huyện Nga Sơn kết luận: 01 lồng gà bằng nhựa màu vàng đã cũ và 09 con gà màu xám đen tổng khối lượng là 18,7kg có tổng trị giá là 1.709.500đ (một triệu bảy trăm linh chín nghìn năm trăm đồng).
Toàn bộ tài sản đã bị thu hồi, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn xác định số tài sản trên là của chị Đỗ Thị H. Ngày 31/10/2021, chị H mua gà tại Nam Định. Đêm ngày 31/10/2021, chị H thuê xe ô tô chở hàng về bên nhà để bán, lợi dụng sơ hở, đêm tối, V đã trộm cắp. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn đã trả lại tài sản cho chị H. Sau khi nhận lại tài sản, chị H không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9/2021 đến cuối tháng 10/2021, Trần Văn V đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tại gia đình chị Mai Thị H ở xã H và gia đình chị Đỗ Thị H ở xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.009.500đ. Mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản dưới 2.000.000đ nhưng trước đó, V có 01 tiền án; tháng 12/2020, V bị TAND huyện Nga Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án HSST số 59/2020/HSST ngày 29/12/2020, V chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2021, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do đó hành vi của Trần Văn V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 02/CT-VKSNS-KT ngày 01/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; để xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên miễn xét. Truy thu số tiền 130.000đ đối với bị cáo V do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh:
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9/2021 đến cuối tháng 10/2021, Trần Văn V đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.009.500đ. Cụ thể:
Lần 1: Ngày 28/9/2021, trộm cắp tài sản của gia đình chị Mai Thị H ở xã H, huyện N 01 máy bơm nước nhãn hiệu OBAMA, loại 150W, giá trị 300.000đ, V đem bán cho người phụ nữ thu mua sắt vụn được 130.000đ chi tiêu cá nhân.
Lần 2: Ngày 31/10/2021, trộm cắp tài sản của gia đình chị Đỗ Thị H ở xã L, huyện N 01 lồng gà bằng nhựa và 09 con gà khối lượng là 18,7kg, giá trị 1.709.500đ. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, chị H không có yêu cầu gì thêm.
Như vậy, mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản dưới 2.000.000đ nhưng trước đó, V có 01 tiền án; tháng 12/2020, V bị TAND huyện Nga Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án HSST số 59/2020/HSST ngày 29/12/2020, V chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2021, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do đó hành vi của Trần Văn V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Đây là vụ án Trộm cắp tài sản do một mình bị cáo Trần Văn V thực hiện, do muốn có được tiền không phải bằng sức lao động lương thiện, để tiêu xài cho bản thân nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nhất là loại tội phạm trộm cắp nên hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
- Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn V có nhân thân xấu: Tháng 7/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích. Tháng 4/2019, bị Công an xã Nga Liên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng TNHS: Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đó là: Người phạm tội thành khẩn khai báo và người phạm tội đầu thú theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo phạm phải. Bị cáo nhân thân xấu về tội trộm cắp tài sản, có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản không lấy đó làm bài học sửa chữa lỗi lầm nay lại tiếp tục phạm tội; do vậy, cần xử phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp với quy định của pháp luật để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
01 máy bơm nước nhãn hiệu OBAMA, loại 150W, giá trị 300.000đ của gia đình chị Mai Thị H, V đem bán cho người phụ nữ thu mua sắt vụn được 130.000đ chi tiêu cá nhân, do chị H đã mua máy bơm mới và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên miễn xét.
01 lồng gà bằng nhựa và 09 con gà khối lượng là 18,7kg, giá trị 1.709.500đ của gia đình chị Đỗ Thị H, chị H không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Đối với số tiền 130.000đ bị cáo V đã chi tiêu cá nhân, xét thấy đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:
Bản cáo trạng, Quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo Trần Văn V trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
Trong hồ sơ vụ án, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều tuân thủ theo quy định của BLTTHS tại Điều 37, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên và Điều 42 nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
+ Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
+ Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 01/11/2021.
+ Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS: Truy thu của bị cáo Trần Văn V số tiền 130.000đ (một trăm ba mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
+ Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
+ Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nga Sơn; - Công an huyện Nga Sơn; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - Bị cáo; bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |