- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI HUY H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2021/HS-ST Ngày 27-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út
Bà Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Danh Lê Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Huy H, sinh năm 1973 tại Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã M, huyện M, tỉnh N; nơi cư trú: Số B, khóm B, phường N, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Huy H1, sinh năm 1933 (chết) và bà Bùi Thị D, sinh năm 1934 (chết), có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1975 và 04 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị khởi tố bị can ngày 09/12/2020 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đị khỏi nơi cư trú đến nay, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Huỳnh Phước H, là Luật sư công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một Thành Viên Huỳnh Phước H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).
Bị hại: Ngô Thanh X, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 07, khu tập thể F, khóm B, phường T, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Kim Nh, sinh năm 1968; địa chỉ: Số 07, khu tập thể F, khóm B, phường T, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Ông Ngô Thanh T, sinh năm 2001; địa chỉ: Số 07, khu tập thể F, khóm B, phường T, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ông Bùi Huy S, sinh năm 1968; địa chỉ: Số B, khóm B, phường N, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Huy H và bà Huỳnh Kim Nh là hàng xóm tại đường H, khóm B, phường T, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Do không thường xuyên sinh sống tại đây nên bị cáo Bùi Huy H kêu con rễ của bị cáo H là anh D Hải D thuê thợ xây hàng rào trên phần đất của bị cáo H. Khoảng 07 giờ ngày 07/3/2020, anh D thuê nhưng người thợ xây gồm anh Phan Văn Th, anh Thái Văn Q và 02 người khác không xác định nhân thân đến đổ cột bê tông và xây hàng rào. Lúc này, bà Huỳnh Kim Nh không đồng ý nên gọi điện thoại cho bị cáo Bùi Huy H để ngăn cản vì việc xây hàng rào ảnh hưởng đến việc kinh doanh mua bán của gia đình bà Nh. Bị cáo H không đồng ý và kêu anh D cứ tiếp tục xây dựng.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày 07/3/2020, anh Ngô Thanh X (con bà Nh) đi làm về thấy cột bê tông được dựng lên nên chạy đến xô ngã và ngăn cản không cho xây dựng nên anh D gọi điện thoại thông báo cho bị cáo H và kêu Hạ đến giải quyết. Một lúc sau, bị cáo H điều khiển xe mô tô chở anh ruột là ông Bùi Huy S đến, lúc này, khi thấy cột bê tông đổ nên ông Súy đến dựng cột bê tông lên còn bị cáo H thì xách hồ (hỗn hợp cát, đá, xi măng) để đổ vào trong móng cột đồng thời bị cáo H lấy một khúc cây đố (loại gỗ cứng, chức dài 160cm, cạnh 5cm x 2cm) để chống giữ chân cột bê tông không cho ngã. Ngay lúc này, anh Ngô Thanh T (con bà Nh) từ trong nhà chạy ra đẩy vào người ông Súy làm ông Súy bị té ngã, nhưng do mất thăng bằng nên Tuấn ngã về hướng ông Bùi Huy S, ông Súy dùng cây giá (lưỡi bằng kim loại và cán bằng gỗ) dài khoảng hơn 1m ở gần đó đánh vào phần đầu của anh Tuấn gây thương tích nên anh Tuấn chụp cán giá và giằng co với Súy thì được bà Huỳnh Kim Nh và anh D Hải D can ngăn. Anh Ngô Thanh X ở trong nhà chạy ra thì bị cáo Bùi Huy H dùng cây đố đang cầm trên tay đánh vào vùng đầu anh X, anh X té ngã bất tỉnh.
Khi chứng kiến sự việc thì bà Châu Kim L (người làm thuê cho bà Nh) truy hô: “Chế ơi thằng Tượng (Xuyên) bị đánh chết rồi”, bà Nh thấy Xuyên nằm bất động trước sân nên chạy đến chụp cây đố giằng co với bị cáo H thì bị té ngã. Bị cáo H ném bỏ khúc cây (đã gãy) rồi cùng ông Bùi Huy S đến công an phường 8, thành phố Bạc Liêu trình báo sự việc.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 111/TgT, ngày 14/7/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế Bạc Liêu, kết luận đối với anh Ngô Thanh X có các thương tích chính sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Một vết xây xát để lại vết biến đổi sắc tố da ở mắt cá trong cẳng chân phải. Tỷ lệ: 0,5% (không phẩy năm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ phải sang trái.
- Máu tu ngoài màng cứng trán trái, đã điều trị không còn hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh. Tỷ lệ: 05% (năm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.
- Nứt sọ vùng trán thái dương trái, chiều dài đường nút 3cm, điện não không có tổn thương tương ứng. Tỷ lệ 11% (mười một). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.
- Hết sưng nề trán trái, hết đau đầu: Theo Thông tư 22 không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trên xuống dưới.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 16% (mười sáu).
3. Kết luận khác:
- Các thương tích trên theo Thông tư 22 không quy định về thẩm mỹ.
Theo thông tư 20 không quy định về cố tật”.
Tại Bản kết luận số 5968/C09B, ngày 14/12/2020, của Phân Viện khoa học tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- “ 01 (một) cái lưỡi giá (lưỡi xẻng) bằng kim loại; 03 (ba) đoạn gỗ có kích thước khác nhau (dài 1m, 34cm và 28cm) nếu tác động trực tiếp lên cơ thể người có thể gây thương tích và là hung khí nguy hiểm”.
- “03 (ba) đoạn gỗ có kích thước khác nhau (dài 1m, 34cm và 28cm là cùng một đoạn gỗ gãy ra”.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) cái lưỡi giá (lưỡi xẻng) bằng kim loại, 03 (ba) đoạn gỗ có kích thước khác nhau (dài 1m, 34cm và 28cm), 01 nón bảo hiểm đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu để bảo quản theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Thanh X, anh Ngô Thanh T và bà Huỳnh Kim Nh đã nhận 200.000.000 đồng do bị cáo Bùi Huy H tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, không có yêu cầu gì khác, đồng thời anh X, anh Tuấn, bà Nh có đơn yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi Huy H và ông Bùi Huy S.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKSTPBL ngày 23/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Bùi Huy H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa :
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Bùi Huy H và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Huy H về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo H được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên đề nghị không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái lưỡi giá (lưỡi xẻng) bằng kim loại, 03 (ba) đoạn gỗ có kích thước khác nhau (dài 1m, 34cm và 28cm), 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn trên gói niêm phong có dòng chữ “một nón bảo hiểm”.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Huy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Bùi Huy H thống nhất cáo trạng truy tố đối với hành vi của các bị cáo và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Huy H là ông Huỳnh Phước H thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, thống nhất các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị; bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, có cha ruột là ông Bùi Huy H1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, con bị cáo là cháu Bùi Thị Kim Chi bị bệnh có nhược điểm về tâm thần, thể chất nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện và giao bị cáo cho Ủy ban nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Huy H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo Bùi Huy H tại cơ quan điều tra phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/3/2020 tại khu vực khóm 3, phường 8, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Bùi Huy H có hành vi dùng cây gỗ, là hung khí nguy hiểm đánh anh Ngô Thanh X gây thương tích, tổng tỷ lệ thương tích theo kết luận giá định của cơ quan giám định là 16%.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Bùi Huy H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Huy H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
[3] Hành vi của bị cáo Bùi Huy H là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm. Bị cáo Bùi Huy H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có cha ruột là ông Bùi Huy H1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét các tình tiết của vụ án áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ nhưng mức hình phạt như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là nhẹ chưa đủ sức răn đe đối với bị cáo vì vậy Hội đồng xét xử xử bị cáo mức hình phạt cao hơn Kiểm sát viên đề nghị.
Đồng thời, bị cáo H có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, con bị cáo là cháu Bùi Thị Kim Chi bị bệnh, có nhược điểm về tâm thần, thể chất. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội do có mâu thuẫn với gia đình bị hại từ trước nhưng sau khi sự việc xảy ra đã ăn năn hối cải và đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo H và người bào chữa cho bị cáo, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H hình phạt tù có điều kiện.
Đối với ông Bùi Huy S, tuy có hành vi gây thương tích cho anh Ngô Thanh T tỷ lệ 05% nhưng anh Ngô Thanh T có đơn yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự với ông Bùi Huy S và ông Bùi Huy H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với bà Huỳnh Kim Nh quá trình điều tra xác định bà bị té ngã làm đứt dây chằng gối phải, gây tổn hại sức khỏe tỷ lệ 15%. Bà Nh xác định do bà tự té ngã không phải do bị cáo H và ông Súy gây ra nên không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cao Bùi Huy H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[4] Về vật chứng của vụ án: 01 (một) cái lưỡi giá (lưỡi xẻng) bằng kim loại, 03 (ba) đoạn gỗ có kích thước khác nhau (dài 1m, 34cm và 28cm), 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn trên gói niêm phong có dòng chữ “một nón bảo hiểm” là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Thanh X, bà Huỳnh Kim Nh, anh Ngô Thanh T đã nhận 200.000.000đ từ bị cáo Bùi Huy H, anh Tuấn, anh X, bà Nh không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trách nhiệm dân sự.
[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Huy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Huy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Bùi Huy H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Huy H cho Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cái lưỡi giá bằng kim loại được gói niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Đăng H và đóng dấu giáp lai của Đội 2 - Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, gói niêm phong còn nguyên vẹn.
- 03 (ba) đoạn gỗ có kích thước khác nhau (dài 1m, 34 cm và 28cm) được gói niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Năng H và đóng dấu giáp lai của Đội 2 - Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, gói niêm phong còn nguyên vẹn.
- 01 (một) gói niêm phong có chữ ký xác nhận của Huỳnh Kim Nh, Ngô Thanh T, Ngô Thanh X, Bùi Huy H, Bùi Huy S và Điều tra viên Lê Xuân Quyết, có đóng dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bạc Liêu bên ngoài gói niêm phong có ghi dòng chữ “Một nón bảo hiểm”, gói niêm phong còn nguyên vẹn.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2021)
4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Huy H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Bùi Huy H, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP Bạc Liêu; - CQ Điều tra TP Bạc Liêu; - Chi Cục THA.DS TP Bạc Liêu; - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ; - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( đã ký) Lâm Thị Tuyết Anh |