vanban.org

Bản án 73/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

Xử phạt: Trần Nguyễn Quốc T 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 12 năm 2020; phạt bị cáo 10.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2021/HS-ST
Ngày: 20/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nghiêm Thị Xuân Huê

Ông Nguyễn Chí Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Trà – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2021/

TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

364/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Nguyễn Quốc T; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1994 tại Thành phố

Hồ Chí Minh; Địa chỉ đăng ký thường trú tại: Ấp Thiên Bình, phường Tam

Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Hiện cư trú tại: Số X đường Cách

Mạng Tháng Tám, Phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp:

Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:

Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Trần Thị Bạch Y, sinh năm: 1970; Có vợ

và 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: Không;

Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 13 tháng 12 năm 2020. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12 năm 2020, Trần Nguyễn

Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69B1-519.53 đi đến khu vực chợ

Hòa Hưng, Quận 10 để tìm B (không rõ lai lịch) mua 04 gói ma túy tổng hợp,

loại Methamphetamine với giá 3.000.000 đồng đựng trong 01 hộp kim loại; T bỏ số ma túy trên vào 01 túi nylon in chữ Vinmart treo tại móc treo đồ dưới cổ xe rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, khi T đứng đợi bạn cạnh xe mô tô biển kiểm soát 69B1-519.53 đậu trên vỉa hè (đường Hoàng Sa), sau lưng nhà số X đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đa Kao, Quận 1 thì bị các anh Nguyễn Văn T và anh Dương Hữu C (Cán bộ Công an và bảo vệ dân phố phường Đa Kao, Quận 1) đang đi tuần tra địa bàn thấy T có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên anh T và anh C mời T về trụ sở Công an phường Đa Kao, Quận 1 làm việc. Tại Công an phường Đa Kao, Quận 1, kiểm tra xe mô tô trên thì phát hiện 01 túi nylon bên ngoài in chữ Vinmart được treo tại móc treo đồ dưới cổ xe, bên trong có chứa 01 hộp kim loại đựng 04 gói nylon chứa tinh thể không màu (T khai là ma túy) nên tổ công tác thu giữ vật chứng, giao T cho Công an phường Đa Kao, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thụ lý giải quyết. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Trần Nguyễn Quốc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ: 04 gói nylon chứa 8,0790 gam ma túy ở thể rắn, loại

Methamphetamine; 01 túi nylon màu trắng in chữ Vinmart+; 01 điện thoại di động Nokia, các số imei: 357902050557442, 869002031438340; 01 điện thoại di động Vivo, các số imei: 861325048711716, 861325048711708; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát: 69B1-519.53, số khung: 5832LZ469220 số máy: JF86E5187782 do bà Trần Thị T (dì ruột của vợ T) đứng tên đăng ký; bà T cho T mượn chiếc xe trên để sử dụng, không biết T mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã trả lại xe cho bà T.

Kết luận giám định số: 2077/KLGĐ-H ngày 21 tháng 12 năm 2020 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hồ Chí Minh, tinh thể không màu trong 04 gói nylon (đựng trong 01 hộp kim loại) được niêm phong bên ngoài có các chữ tên Trần Nguyễn Quốc T, Đỗ Hải T và hình dấu Công an phường Đa Kao, Quận 1 đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 8,0790 gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 56/CT-VKSQ1 ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Viện

kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Trần Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố

luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Nguyễn Quốc T mức án từ 05 năm đến 06 năm tù, phạt bị cáo 10.000.000 đồng; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng;

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự

bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình

điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý

kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nguyễn Quốc T khai nhận đã có hành vi cất

giữ 8,0790 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng vào lúc 18 giờ ngày

13 tháng 12 năm 2020, trên vỉa hè đường Hoàng Sa, sau lưng nhà số 58 đường

Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đa Kao, Quận 1. Bị cáo là người có năng

lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật

nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội

với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai

của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu

giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp

với sự thật khách quan của vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối

với bị cáo Trần Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo

điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng

quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm hại

đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an

ninh trật tự và an toàn xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh, có một mức án

nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục,

cải tạo, cai nghiện ma túy cho bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết

giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, lần đầu phạm

tội, chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51

của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 10.000.000 đồng theo quy định tại

khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định và 01 túi nylon

màu trắng in chữ Vinmart+ cần tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng; Trả lại cho Trần Nguyễn Quốc T 01 điện thoại di động Nokia, các số imei: 357902050557442, 869002031438340 và 01 điện thoại di động Vivo, các số imei: 861325048711716, 861325048711708 do không liên quan đến vụ án nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát: 69B1 - 519.53 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã trả lại xe cho chủ sở hữu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo do chưa

xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

1. Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trần Nguyễn Quốc T 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày 13 tháng 12 năm 2020; phạt bị cáo 10.000.000 đồng.

2. Áp dụng các khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 2077/20, các

chữ ký ghi tên Thượng úy Nguyễn Thanh Đ, Lê Anh K; 01 túi nylon màu trắng in chữ Vinmart+ ;

Trả lại cho Trần Nguyễn Quốc T 01 điện thoại di động Nokia, các số imei:

357902050557442, 869002031438340 và 01 điện thoại di động Vivo, các số imei: 861325048711716, 861325048711708 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

(Theo các Lệnh nhập kho vật chứng số 32/LNK-ĐCSMT ngày 25 tháng 01

năm 2021 và 52/LNK-ĐCSMT ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Công an Quận 1)

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền

kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ