vanban.org

Bản án 73/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Quốc T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01-8-2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Quốc Tần - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Quốc T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2021/HS-ST
Ngày 22-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Nghiêm và ông Phạm Văn Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Triệu Quốc T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1991 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn K (đã chết) và bà Lương Thị B, sinh năm 1964; có vợ là Hoàng Thị H, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-8-2021 tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Triệu Quốc T là đối tượng nghiện chất ma túy Heroine, để có ma túy sử dụng, Triệu Quốc T thường đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 01-8-2021, Triệu Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12H1-29006 từ nhà ở Thôn N, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn di chuyển xuống thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy về sử dụng, khi đến trước cửa một ngôi nhà hai tầng phía bên phải đường có cửa xếp sắt có lỗ thủng dưới chân cửa xếp, Triệu Quốc T đi vào và dừng trước chỗ có lỗ thủng hỏi mua ma túy thì được người đàn ông phía trong cửa xếp bán cho 02 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Triệu Quốc T cho số ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến chốt kiểm dịch Covid - 19 tại thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện phát hiện bắt quả tang tạm giữ người cùng đồ vật, phương tiện có liên quan.

Tại bản kết luận giám định số: 275/KL-PC09 ngày 02-8-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng thu giữ của Triệu Quốc T là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,111 gam (đã trừ bì).

Tại Bản cáo trạng số: 77/CT-VKS, ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Triệu Quốc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong đựng mẫu vật chất ma túy heroine hoàn trả sau giám định, có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn tại phần giáp lai mới và các vỏ bao gói; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 12H1-29006, đã qua sử dụng, màu sơn cam đen; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 020418, tên chủ xe Triệu Quốc T, Công an huyện Hữu Lũng cấp ngày 03-4-2018.

Tại phiên toà bị cáo Triệu Quốc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu ở trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Triệu Quốc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38; 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong đựng mẫu vật chất ma túy heroine hoàn trả sau giám định và các vỏ bao gói; trả lại cho Triệu Quốc T 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 12H1-29006, đã qua sử dụng, màu sơn cam đen và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 020418, tên chủ xe Triệu Quốc T, Công an huyện Hữu Lũng cấp ngày 03-4-2018 do không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy lỗi lầm của bản thân, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm cải tạo trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Quốc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 01-8-2021, Triệu Quốc T một mình đi từ nhà đến thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua ma túy về sử dụng. Hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày, Triệu Quốc T về đến chốt kiểm soát dịch bệnh Covid 19 thuộc địa phận thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy có tổng khối lượng 0,111 gam (đã trừ bì). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo Triệu Quốc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây thiệt hại về kinh tế. Ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo là người có đủ độ tuổi, năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy và quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm trước pháp luật.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân không tốt là đối tượng nghiện ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Để giáo dục bị cáo Triệu Quốc T trở thành người có ích, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, qua đó làm gương cho những người khác có ý định phạm tội tương tự.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền là hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong đựng mẫu vật chất ma túy heroine hoàn trả sau giám định, có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn tại phần giáp lai mới và các vỏ bao gói là vật chứng cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 12H1-29006, đã qua sử dụng, màu sơn cam đen; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 020418, tên chủ xe Triệu Quốc T, Công an huyện Hữu Lũng cấp ngày 03-4-2018, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội cần tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Triệu Quốc T tại thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do không xác định được nhân thân lai lịch. Kết quả điều tra làm rõ địa điểm Triệu Quốc T mua ma túy là ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Văn D, sinh năm 1989, trú tại Tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhưng Dương không có mặt tại địa phương, nên không có cơ sở mở rộng điều tra. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác của vụ án. Xét thấy đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Triệu Quốc T bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Quốc T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01-8-2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong đựng mẫu vật chất ma túy heroine hoàn trả sau giám định, có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn tại phần giáp lai mới và các vỏ bao gói.

3.2. Tuyên trả lại cho bị cáo Triệu Quốc T 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 12H1-29006, đã qua sử dụng, màu sơn cam đen; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 020418, tên chủ xe Triệu Quốc T, Công an huyện Hữu Lũng cấp ngày 03-4-2018.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 10 năm 2021).

4. Về án phí: Bị cáo Triệu Quốc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ