- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 73/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2021 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Sơn Điền;
2. Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quang Khải - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 133/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1990; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 3, xã X, thị xã T, tỉnh An Giang;
Địa chỉ liên hệ: đường A, thị trấn M, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1977; Địa chỉ: khóm C, phường H, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc L trình bày: Năm 2013, chị L và anh Nguyễn Văn P tự tìm hiểu, yêu thương nhau tự nguyện chung sống như vợ chồng. Vào năm 2015, chị L và anh P đã tiến tới hôn nhân và tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17 ngày 30/01/2015. Sau khi kết hôn, chị L và anh P đi làm ở Bình Dương. Đến tháng 01 năm 2016, phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm và kinh tế, tính tình không phù hợp nên chị L và anh Nguyễn Văn P sống xa nhau từ tháng 01 năm 2016 cho đến nay. Hai bên gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Chị L và anh P đã lâu không liên lạc với nhau nên không còn tình cảm vợ chồng. Do đó, chị L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh Nguyễn Văn P có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/12/2014, do anh P nuôi dạy. Sau khi ly hôn chị L đồng ý giao con chung cho anh P nuôi dạy và không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn đã nộp các tài liệu chứng cứ: Bản tự khai; Bản sao sổ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân của nguyên đơn; Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17, ngày 30/01/2015 do Ủy ban nhân dân xã X cấp cho chị L và anh P; Bản sao giấy khai sinh cháu K.
Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 194/TB-TLVA ngày 02/4/2021 và các văn bản tố tụng khác cho anh P theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp; và tống đạt thông qua người thân nhận là bà Hồ Thị Đ (mẹ ruột của anh P) nhận thay và cam kết thông báo lại cho anh P biết nhưng đến nay Tòa án không nhận được văn bản ý kiến của anh P đối với yêu cầu của chị L và các tài liệu chứng cứ kèm theo.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập, xác minh: Xác minh nơi cư trú của anh P tại Công an phường H, thị xã T; Xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh P tại ban khóm C, phường H, thị xã T; Xác minh tình trạng hôn nhân và con chung giữa chị L và anh P tại Hội liên hiệp phụ nữ phường H; Lấy lời khai người thân anh P là bà Hồ Thị Đ, cụ thể:
Công an phường H, thị xã T cung cấp: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1977 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 91, tổ 11, lô 5, khóm C, phường H, thị xã T, tỉnh An Giang. Anh P vắng mặt tại địa phương từ tháng 01/2021 cho đến nay.
Ban khóm C, phường H, thị xã T cung cấp: Anh P và chị L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X. Ban ấp không biết mâu thuẫn vợ chồng anh P và chị L như thế nào. Anh P và chị L có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh năm 2014, cháu K hiện được anh P nuôi dạy.
Hội liên hiệp phụ nữ phường H cung cấp: Anh P và chị L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X. Sau khi kết hôn, anh P và chị L sinh sống và làm việc ở Bình Dương. Trong thời kỳ hôn nhân, anh P và chị L có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh năm 2014. Cháu K hiện được anh P và gia đình nuôi dạy tốt, anh P và gia đình đủ điều kiện kinh tế nuôi dạy cháu, cháu K được đi học đúng độ tuổi.
Bà Hồ Thị Đ cung cấp: P và L là vợ chồng, không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X. Sau khi kết hôn, anh P và chị L đi làm và sinh sống thường tại Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng P và L chung sống hạnh phúc. Đến năm 2016, P và L sống xa nhau cho đến nay do cuộc sống chung không hạnh phúc. P và L có một con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh năm 2014. Hiện tại, P đi làm xa, thỉnh thoảng có về thăm cháu K, hàng tháng P gửi tiền về nuôi cháu K. Kể từ ngày P và L sống xa nhau thì Linh không có trở về thăm con chung.
Tại phiên tòa, chị L và anh P đều vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 97, Điều 191, Điều 195, Điều 196 và Điều 203 BLTTDS năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt tại Phiên tòa 02 lần không lý do.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ giữa chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn P do tự tìm hiểu, đi đến sống chung 2013 và đăng ký kết hôn 2015 tại UBND xã X. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ 2016 cho đến nay.
Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân của chị L và anh P đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P là có cơ sở, nên chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn P có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/12/2014. Hiện cháu K đang sống chung với anh P, khi ly hôn chị L đồng ý để anh P tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, đồng thời cháu K đang sinh sống ổn định cùng với anh P, nên chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn P của chị Nguyễn Thị Trúc L.
- Về quan hệ con chung: Giao Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/12/2014 cho anh Nguyễn Văn P chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Anh P có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm Long Thạnh C, phường H, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Văn P được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
* Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17 ngày 30/01/2015, hôn nhân giữa chị L và anh P là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Chị L khai: Thời gian đầu, vợ chồng chị L và anh P chung sống hạnh phúc. Đến năm năm 2016, chị L và anh P phát sinh mâu thuẫn về tình cảm và kinh tế, tính tình không phù hợp nên chị L và anh Nguyễn Văn P sống xa nhau từ tháng 01 năm 2016 cho đến nay. Hai bên gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị L yêu cầu ly hôn với anh P.
Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Cuộc sống vợ chồng của chị L và anh P phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, kinh và sống xa nhau từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị L và anh P hàn gắn tình cảm gia đình nhưng anh P vắng mặt và có ý kiến (thông qua người thân), đồng ý ly hôn với chị L.
Tình trạng vợ chồng chị L và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị L ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh P có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh năm 2014. Cháu K hiện do anh P và gia đình nuôi dạy. Chị L đồng ý giao con chung cho anh P nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung.
Cháu K được anh P và gia đình nuôi dạy từ năm 2016 cho đến nay. Chị L tự nguyện giao con chung cho anh P nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung. Hội liên hiệp phụ nữ phường H, xác nhận anh P và gia đình nuôi dạy cháu K tốt, đủ điều kiện kinh tế nuôi dạy cháu K, cháu K được đi học đúng độ tuổi.
Xét, giao cháu K cho anh P trực tiếp nuôi dạy, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh Nguyễn Văn P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị Trúc L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp. Anh P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.
Chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 17, được Uỷ ban nhân dân xã X, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp ngày 30/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn P không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn P được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05/12/2014 cho con đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động. Chị Nguyễn Thị Trúc L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị Trúc L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số TU/2019/0002376 ngày 02 tháng 04 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Chị L đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Văn P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo của chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn P là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TX. Tân Châu (02); - Chi cục THADS TX. Tân Châu (01); - Toà án nhân dân tỉnh An Giang (01); - UBND nơi đăng ký kết hôn (01); - Lưu văn phòng (2); - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |