vanban.org

Bản án 73/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 13/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tráng A D (tên gọi khác Khà A D) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về vật chứng: Đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2005/HSST ngày 22/12/2005 củaTòa án nhân dân tỉnh Sơn La. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tráng A D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng A D (Khà A D) phạm tội Mua bán trái phép chết ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tráng A D (tên gọi khác Khà A D) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2020/HSST
Ngày 13 - 8- 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Điệt

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Nam Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn, bà Bùi Thị Đào, ông Lê Bắc Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 13/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:

Tráng A D,(tên gọi khác Khà A D), sinh năm 1937, tại huyện M ,tỉnh H. Nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh H; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độvăn hóa:Không biết chữ;dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Khà A S (tên gọi khác Tráng A S) và bà Vàng Y L (đều đã chết); có vợ Vàng Y P và có 06 con, con lớn sinh năm 1958, con nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú). Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Bá Linh, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La.Có mặt.

Người phiên dịch: Ông Sùng A Q, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn D, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn ra tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 03 giờ 30 phút ngày 12/7/2005, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phối hợp với Công an xã Đông Sang huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực dốc 1, Đội Dâu Tằm Tơ thuộc địa phận bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn V, trú tại HTX Tự Nhiên, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu và Lư Văn H, trú tại tiểu khu 5 thị trấn Mộc Châu đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong túi quần của Hải một bánh bột nén, cân tịnh có trọng lượng 260 gam.

Kết luận giám định số: 501/KLGĐ ngày 23/8/2005 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu bột màu trắng ngà ký hiệu HV có thành phần Heroine”.

Mở rộng điều tra ngày 03/11/2005, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Tráng A D (Khà A D) và Vàng A D, trú tại bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự (năm 1999). Tráng A D và Vàng A D không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra Quyết định truy nã bị can.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Việt, Lư Văn H, Tráng A D khai nhận:

Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2005, Lư Văn H sang chơi và ăn cơm tại nhà Đỗ Bá H1, trú tại tiểu khu 1, thị trấn Mộc Châu, đến khoảng 20 giờ cùng ngày H1 rủ H đến nhà Nguyễn Văn V trú tại hợp tác xã Tự Nhiên, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu để xin V ma túy sử dụng, H đồng ý đi cùng H1 đến nhà V. Tại nhà V, H1 và H xin V ma túy (Heroine) để sử dụng, V nói không có nên H1 bỏ về trước, V rủ H cùng đi vào bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu để mua Heroine, khi về sẽ cho H một ít để sử dụng, H đồng ý. Sau đó V lấy xe máy chở H và đem theo số tiền 3.300 USD để mua Heroine. Đến 21 giờ ngày 11/7/2005, V và H đến nhà Tráng A D, lúc này gia đình D đã đi ngủ, V gọi D dậy và đặt vấn đề nhờ mua hộ một bánh Heroine, D hỏi V có tiền chưa, V nói có 3.300 USD. D đi khỏi nhà khoảng 01 giờ sau quay lại đưa cho V một bánh Heroine, V, H trích ra một ít cho vào xi lanh sử dụng (chích), V thấy bánh Heroine đã bị khoét nhiều chỗ nên bảo D đổi cho bánh Heroine khác, D cầm bánh Heroine dẫn V, H đi sang nhà Vàng A D1 (con rể D) ở cùng bản bảo D1 đổi cho V bánh Heroine khác. D1 lấy bánh Heroine khác đưa cho V, V lại chích một ít cho vào xi lanh sử dụng thử, thấy chất lượng của bánh Heroine này kém hơn bánh trước nên V lấy lại bánh Heroine ban đầu đưa cho H gói lại và lấy 3.300 USD trả cho D1. Sau khi mua được Heroine, V điều khiển xe máy chở H ngồi sau cầm bánh Heroine quay về nhà, trên đường về đến khu vực bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 bánh Heroine.

Sau khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La truy nã về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tráng A D đã cùng gia đình chuyển từ bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu đến sinh sống tại Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh H. Ngày 28/02/2020, D đến Công an xã Hang Kia, Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, đầu thú và khai nhận khoảng 21 giờ ngày 11/7/2005, Nguyễn Văn V, Lư Văn H đến nhà gọi D dậy nhờ mua hộ Heroine, D đã dẫn V, H sang nhà Vàng A D1 (con rể D) ở cùng bản rồi đi về còn V, H trao đổi mua bán ma túy với D1 như thế nào thì D không biết.

Về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn V, Lư Văn H đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2005/HSST ngày 22/12/2005,xử phạt Nguyễn Văn V 20 năm tù, Lư Văn H 18 năm tù.

Đối với Đỗ Bá H1, sinh năm 1970, trú tại tiểu khu 1, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra có căn cứ xác định việc Nguyễn Văn V, Lừ Văn H đi mua ma túy H1 không được biết và tham gia do vậy Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không đề cập xử lý đối với H1.

Đối với Vàng A D1, ngày 13/11/2011, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La bắt theo lệnh truy nã số: 34 ngày 26/10/2004 của Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an tỉnh Bắc Giang về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2011/HSST ngày 16/11/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Vàng A D1 tử hình về tội Mua bán trái phép chất ma túy.Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 28/11/2011, bị cáo Vàng A D1 kháng cáo xin giảm hình phạt, tại phiên phúc thẩm ngày 29/02/2012 của Tòa án nhân Tối cao tại Hà Nội, bị cáo Vàng A D1 rút toàn bộ đơn kháng cáo. Tòa phúc thẩm Tòa án nhân Tối cao Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vàng A D1, thi hành án phạt tử hình theo Quyết định số: 04 ngày 21/8/2017 của Tòa án tỉnh Bắc Giang. Ngày 25/5/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ra quyết định đình chỉ điều tra đối với Vàng A D1.

Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 80/CT-VKS - P1, ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Tráng A D (tên gọi khác Khà A D) về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Tráng A D (Khà A D) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194, điểm m,o, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Điều 53 Bộ luật Hình sự 1999. Xử phạt bị cáo Tráng A D từ 18 đến 19 năm tù,không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đã được Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, tuyên xử lý tại bản án số: 67/2005/HSST ngày 22/12/2005.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Về hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ người già phạm tội, tự ra đầu thú, thành khẩn khai báo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo là dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Không biết chữ nên sự hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, bị người khác rủ rê lôi kéo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm m, o, p khoản 1, 2 Điều 46, 47, 53 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của Luật sư,hiện tại tuổi đã cao không đảm bảo sức khỏe xin giảm nhẹ hình phạt mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Luật sư không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tối ngày 11/7/2005, Tráng A D, Vàng A D1 đã bán cho Nguyễn Văn V, Lư Văn H 01 bánh Heroine, có tổng khối lượng 260 gam.Sau khi mua được ma túy trên đường vận chuyển V, H đi đến khu vực thuộc địa phận bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

Biên bản bắt người phạm tội tang lập hồi 03 giờ 30 phút ngày 12 tháng 7 năm 2005, tại khu vực dốc I, Đội dâu tằm thuộc bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, đối với Nguyễn Văn V, Lư Văn H. Vật chứng thu giữ trong túi quần của Lư Văn H một bánh bột nén hình chữ nhật, có tổng khối lượng 260 gam. H và V khai đó là Heroine.

Kết luận giám định số: 501/KLGD ngày 23/8/2005 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu bột màu trắng ngà ký hiệu HV có thành phần Heroin”.

Sau khi bị bắt Nguyễn Văn V, Lư Văn H khai nhận số ma túy thu giữ trong vụ án mua của Tráng A D, Vàng A D1. Mở rộng điều tra ngày 03/11/2005, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Tráng A D, Vàng A D1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự (năm 1999). Tráng A D và Vàng A D1 không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra quyết định truy nã bị can.

Quyết định truy nã số: 500 ngày 10/11/2005 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, đối với Tráng A D (Khà A D).

Quyết định truy nã số:501 ngày 10/11/2005 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, đối với Vàng A D1.

Quyết định đình chỉ điều tra ngày 25/5/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đối với Vàng A D1.

Quyết định truy nã bị can số: 07 ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, đối với Tráng A D (Khà A D).

Ngày 28/02/2020, Tráng A D đã đến Công an xã Hang Kia, Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đầu thú. Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, đầu thú lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 28/02/2020, tại Công an xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Biên bản đối chất lời khai giữa Tráng A D với Nguyễn Văn Việt lập ngày 18/3/2020, tại Công an xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa,chỉ thừa nhận tối ngày 11/7/2005 được dẫn V, H sang nhà Vàng A D1 (con rể) để mua ma túy rồi đi về, còn việc trao đổi mua bán ma túy với nhau như thế nào, bị cáo không được tham gia, không biết. Xét lời khai của bị cáo là không phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang V, H khai nhận bị cáo là người trực tiếp đi lấy 01 bánh Heroine về giao cho V, H tại nhà của bị cáo. Sau khi thử thấy bánh Heroine có nhiều chỗ bị khoét nên yêu cầu đổi cho bánh Heroine khác, bị cáo đã dẫn V, H sang nhà Vàng A D1 để đổi, do chất lượng kém hơn nên đã chấp nhận lấy bánh Heroine ban đầu. Khi biết V, H bị bắt bị cáo đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú cho đến ngày 28/02/2020 mới ra đầu thú.

Từ các căn cứ chứng minh nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tráng A D (Khà A D) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Tráng A D đã có hành vi tham giamua bán trái phép 01 bánh Heroine, có tổng khối lượng 260 gam, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 “Heroine hoặc Cocain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên” có khung hình phạt tùhai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo Tráng A D phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; tội phạm về ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tai, tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo Tráng A D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã giúp sức cho con rể là Vàng A D1 mua bán ma túy.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức choNguyễn Văn V, Lư Văn H thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy với Vàng A D1 (con rể). Khi phạm tội bị cáo đã 68 tuổi,tính đến ngày ra đầu thú là 83 tuổi bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm m, o, p khoản 1, 2 Điều 46, 47 và Điều 53Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về hình phạt: Bị cáo Tráng A D đã tham gia việc Mua bán trái phép chất ma túy gồm: 01 bánh Heroine có tổng khối lượng 260 gam, có khung hình phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người cao tuổi, sau khi bỏ trốn đến thời điểm ra đầu thú là 83 tuổi nên được xem xét là người già phạm tội,quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,tham gia với vai trò đồng phạm. Do đó, khi lượng hình cần mở lượng khoan hồng thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt. Xét đề nghị mức án của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo từ 18 đến 19 năm tù là không phù hợp, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, người già đã 83 tuổi, tự ra đầu thú. Trong đó bị cáo cùng vụ án là Lư Văn H không có các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo chỉ bị xử phạt 18 năm tù (bản án đã được thi hành) nên không chấp nhận mức án của Kiểm sát viên đề nghị. Xét đề nghị của Luật sư và của bị cáo tại phiên tòa xin giảm nhẹ mức án thấp nhất là có căn cứ nên được chấp nhận.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự, xét hoàn cảnh của bị cáo là già phạm tội, không có tài sản sống phụ thuộc con cáinên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 259,98 gam Heroine còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định và một số đồ vật không có giá trị sử dụng đã được Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, tuyên xử lý tại bản án số: 67/2005/HSST ngày 22/12/2005.

Đối với số tiền 1.150.000 VNĐ và 100 USD thu giữ khi khám xét chỗ ở của Vàng A D1. Ngày 02/6/2020 Cơ quan điều tra (PC04) Công an tỉnh Sơn La, đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Vàng A Của.

Về đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn V và Lư Văn H đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2005/HSST ngày 22/12/2005, xử phạt Nguyễn Văn V 20 năm tù, Lư Văn H 18 năm tù.

Đối với Đỗ Bá H1, quá trình điều tra có căn cứ xác định H1 không được biết, không được tham gia vàoviệc Mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn V và Lừ Văn H. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không đề cập xử lý đối với Đỗ Bá H1 là có căn cứ.

Đối với Vàng A D1, ngày 13/11/2011 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La bắt theo lệnh truy nã số: 34 ngày 26/10/2004 của Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an tỉnh Bắc Giang về tội mua bán trái phép chất ma túy. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2011/HSST ngày 16/11/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Vàng A Dế tử hình về tội mua bán trái phép chất ma túy, sau khi xét xử sơ thẩm ngày 28/11/2011, bị cáo Vàng A D1 kháng cáo xin giảm hình phạt. Tại phiên phúc thẩm ngày 29/02/2012 của Tòa án nhân Tối cao tại Hà Nội, bị cáo Vàng A D1 rút toàn bộ đơn kháng cáo, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân Tối cao đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vàng A D1, bị cáo đã bị thi hành án phạt tử hình theo Quyết định số: 04 ngày 21/8/2017 của Tòa án tỉnh Bắc Giang. Ngày 25/5/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ra quyết định đình chỉ điều tra đối với Vàng A D1.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo là người cao tuổi, dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tráng A D.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 194, điểm m,o, p khoản 1, 2 Điều 46, 47 và Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999.

1. Tuyên bố bị cáo Tráng A D (tên gọi khác Khà A D) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.Xử phạt bị cáo Tráng A D 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.

2. Về vật chứng: Đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2005/HSST ngày 22/12/2005 củaTòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tráng A D.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/8/2020).

Cỡ chữ