vanban.org

Bản án 73/2020/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Cẩm H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Trần Thị Cẩm H 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Thị Cẩm H cho UBND phường H, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Cẩm Hằng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Cẩm H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 73/2020/HS-ST
Ngày: 06/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Quý

2. Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2020/TLST-HS ngày 10/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2020/QĐXXST-HS ngày 23/4/2020, đối với bị cáo:

Trần Thị Cẩm H; sinh năm: 1987; tại: Vĩnh Long; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Q; nơi cư trú: x Quốc lộ y, Khu phố z, phường H, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc T; và bà: Nguyễn Thị H; chồng: Nguyễn Minh S, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án: không; tiền sự: không; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994, địa chỉ: a Lô H, khu phố P, phường V, thành phố D, tỉnh B. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Khoảng 08 giờ 12 phút ngày 25/10/2019, chị Nguyễn Thị N là nhân viên bán sản phẩm ngũ cốc dinh dưỡng hiệu B gặp Trần Thị Cẩm H tại nhà của H số x Quốc lộ y, Khu phố z, phường H, quận Thủ Đức để giới thiệu sản phẩm ngũ cốc dinh dưỡng hiệu B và quay clip quảng cáo sản phẩm. Chị N để bịch ni lông bên cạnh, bên trong có 02 hộp ngũ cốc dinh dưỡng và 01 túi giấy ngũ cốc dinh dưỡng bên trong có số tiền 7.600.000 đồng. Trong lúc chị N tập trung quay clip thì cháu Nguyễn Thị Cẩm P (sinh ngày 30/11/2017) là con của H hiếu động, thò tay vào trong túi giấy ngũ cốc dinh dưỡng lấy số tiền 7.600.000 đồng đưa cho H. Lúc này, H nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên. Quan sát thấy chị N không nhìn thấy, H liền lén lút lấy số tiền 7.600.000 đồng từ tay cháu P bỏ vào túi áo khoác bên phải màu đỏ, sọc đen, đang mặc trên người rồi đem cất giấu dưới bếp gas của nhà H. Chị N sau khi quay clip xong, phát hiện mất số tiền 7.600.000 đồng nên đến Công an phường Hiệp Bình Phước trình báo. Công an phường H mời H đến làm việc và H đã khai vị trí cất giấu số tiền trên. Công an phường H đã thu giữ được vật chứng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thủ Đức, Trần Thị Cẩm H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7.600.000 đồng (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Ngày 25/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 7.600.000 đồng cho chị Nguyễn Thị N là chủ sở hữu.

- 01 USB chứa hình ảnh camera ghi lại diễn biến hành vi Trần Thị Cẩm H chiếm đoạt tài sản.

Phần dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị N đã nhận lại đủ tài sản và làm đơn bãi nại cho bị cáo Trần Thị Cẩm H.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Cẩm H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.

Bản Cáo trạng số 69/CT-VKSTĐ ngày 06/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố Trần Thị Cẩm H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 của Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, cùng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, án treo, phần dân sự đã giải quyết xong.

Bị cáo Trần Thị Cẩm H không tranh luận, bào chữa. Bị cáo Trần Thị Cẩm H nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị Cẩm H phù hợp với lời khai của bị hại, bản trình báo vụ việc, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại chị Nguyễn Thị N. Tài sản chiếm đoạt là số tiền 7.600.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Trần Thị Cẩm H đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định, trừng trị tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có tính cơ hội, được bị hại đã bãi nại cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự, nhân thân của bị cáo tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, đang nuôi con nhỏ. Chiếu theo chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Bị hại chị Nguyễn Thị N đã nhận lại số tiền 7.600.000 đồng bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác, phần bồi thường dân sự đã giải quyết xong.

- 01 USB chứa hình ảnh camera ghi lại diễn biến hành vi Trần Thị Cẩm H chiếm đoạt tài sản, là vật chứng kèm theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Cẩm H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015,

Xử phạt: bị cáo Trần Thị Cẩm H 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án.

- Giao bị cáo Trần Thị Cẩm H cho UBND phường H, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Thị Cẩm H chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

(Đã giải thích chế định án treo).

Cỡ chữ