vanban.org

Bản án 73/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội ‘‘Trộm cắp tài sản‘‘. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (mười)tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 73/2020/HS-ST
Ngày: 11-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Ngạn và bà Trần Thị Khanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2020/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2020/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985 tại Hải Dương; nơi cư trú: thôn T.X, xã H.H, huyện G.L, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Phạm Thị N; vợ Lê Thị Th (đã ly hôn); có 02 con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+. Bản án số 39/2009/HSST ngày 21/10/2009, Toà án nhân dân huyện G.L, tỉnh Hải Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2012 và các hình phạt khác của bản án).

+. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08 ngày 09/01/2014 Công an huyện G.L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” (hình thức phạt tiền, bị cáo đã chấp hành xong).

+. Ngày 08/7/2015 Công an huyện G.L xử phạt vi phạm hành chính số 91 về hành vi “Trộm cắp tài sản” (hình thức phạt tiền, bị cáo đã chấp hành xong).

Tiền án:

+. Bản án số 28/2016/HSST ngày 10/5/2016, Toà án nhân dân huyện Â.T, tỉnh H.Y xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản trộm cắp 2.170.000đồng) (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/2/2017, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm).

+. Bản án số 11/2019/HSST ngày 22/3/2019, Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản trộm cắp 14.840.000đồng); 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 21 tháng tù (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/8/2020 và các hình phạt khác của bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

+. Ông Vũ Bá Th1, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Thôn L.X, xã L.Đ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+. Anh Nguyễn Công S, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Thôn P.A, xã C.P, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+. Ông Vũ Văn Ư, sinh năm 1964.

+. Bà Nguyễn Thị Th2, sinh năm 1968.

Đều có địa chỉ: Thôn P.B, xã C.P, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).

c. Người làm chứng:

+. Anh Vũ Hoàng Đ1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn B.Đ, xã B.M, huyện B.G, tỉnh Hải Dương.

+. Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Thôn T.H, xã T.V, huyện B.G, tỉnh Hải Dương.

+. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Thôn T.X, xã H.H, huyện G.L, tỉnh Hải Dương.

+. Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn C.T, xã V.D, huyện Â.T, tỉnh H.Y.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Hoàng Đ1 và Vũ Mạnh T thống nhất bàn bạc Đ1 đi trộm chó mèo về bán lại cho T để T mổ bán. Đêm ngày 12/9/2020 rạng sáng ngày 13/9/2020, Nguyễn Văn Đ có quan hệ bạn bè với Đ1 đến huyện B.G chơi thì Đ1 rủ đi trộm cắp chó, mèo Đ đồng ý. Đ1 chuẩn bị 01 chiếc đèn pin, đưa cho Đ BKS 89H7-4993 gắn vào xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu trắng xanh, BKS 34B1-929.15 (Đ mượn của mẹ đẻ bà Phạm Thị N) rồi cả hai đi đến nhà T mượn 02 bao dứa màu vàng, 01 chiếc vợt lưới màu xanh để đi trộm chó, mèo. Khoảng 01 giờ ngày 13/9/2020, Đ1 điều khiển xe máy chở Đ đến địa bàn xã L.Đ thì thấy 01 con mèo lông màu khoang trắng đen trọng lượng 02 kg của ông Vũ Bá Th1 chạy ngoài đường, Đ dùng vợt bắt con mèo để vào trong bao dứa. Cả hai tiếp tục đi đến địa bàn xã C.P dùng vợt bắt 01 con mèo lông màu vàng trọng lượng 4kg của anh Nguyễn Công S và 01 con mèo lông màu xám trọng lượng 02kg của ông Vũ Văn Ư, bà Nguyễn Thị Th2. Tiếp đó, Đ1 và Đ đi đến địa bàn xã Tân Trường trộm cắp được 01 con mèo lông màu khoang vàng trắng đen trọng lượng 02kg và 01 con chó lông màu vàng vện trọng lượng 8,2kg không xác định được chủ sở hữu. Đến khoảng 03 giờ 15 phút, Đ1, Đ mang toàn bộ số chó mèo trộm cắp được bán cho T được 1.500.000đồng và chia nhau mỗi người 750.000đồng. Sự việc bị cơ quan công an huyện B.G phát hiện, lập biên bản chuyển hồ sơ cùng vật chứng vụ án cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng điều tra theo quy định pháp luật.

Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐG-TTHS ngày 16/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND huyện Cẩm Giàng kết luận:

+ 01 con mèo (còn sống) lông màu khoang trắng đen trọng lượng 02kg, có giá trị: 02kg x 110.000đồng/kg = 220.000đồng;

+ 01 con mèo (còn sống) lông màu vàng trọng lượng 04kg, có giá trị: 04kg x 110.000đồng/kg = 440.000đồng;

+ 01 con mèo (còn sống) lông màu xám trọng lượng 02kg, có giá trị: 02kg x 110.000đồng/kg = 220.000đồng;

+ 01 con mèo (còn sống) lông màu khoang vàng đen trắng trọng lượng 02kg, có giá trị: 02kg x 110.000đồng/kg =220.000đồng;

+ 01 con chó (còn sống) lông màu vàng vện trọng lượng 8,2kg, có giá trị 8,2kg x 90.000đồng/kg = 738.000đồng.

Ngày 18/9/2020 và ngày 19/9/2020, Cơ quan công an huyện Cẩm Giàng đã trả lại 01 con mèo lông màu khoang trắng đen cho ông Vũ Bá Th1; 01con mèo lông màu vàng cho anh Nguyễn Công S; 01 con mèo lông màu xám cho ông Vũ Văn Ư, bà Nguyễn Thị Th2. Đối với 01 con chó lông màu vàng vện và 01con mèo lông màu khoang vàng đen trắng không xác định được chủ sở hữu, sau đó con chó, con mèo đã bị chết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đã tiêu hủy bằng hình thức chôn xuống đất theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của bị hại ông Ư, bà Th2, ông Th1 và anh S (thông qua đơn xin xét xử vắng mặt): Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là 03 con mèo và tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, khẳng định VKSND huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 18/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 tháng đến 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu cho tiêu huỷ: 02 bao dứa màu vàng kẻ dọc xanh cam; 01 chiếc vợt có lưới dài 1,2m lưới màu xanh miệng vợt bằng kim loại màu trắng đường kính 0,5m, cán vợt bằng tre dài 1,3m; 01 chiếc đèn pin dài 21,5cm phần đuôi được quấn băng dính màu đen, phần nhựa phía trước màu đỏ có dây đeo màu đen; 01 biển kiểm soát 89H7- 4993.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.500.000đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi mà mình gây ra là sai, là vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

.Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 01giờ 00 phút đến 03giờ 15 phút ngày 13/9/2020 tại địa bàn xã L.Đ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn Đ, Vũ Hoàng Đ1 và Vũ Mạnh T có hành vi trộm cắp 01 con mèo lông màu khoang trắng đen trọng lượng 02 kg, trị giá 220.000đồng của ông Vũ Bá Th1 ở thôn L.X, xã L.Đ, huyện Cẩm Giàng; 01 con mèo lông màu vàng trọng lượng 04 kg, trị giá 440.000đồng của anh Nguyễn Công S ở thôn P.A, xã C.P, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; 01 con mèo lông màu xám trọng lượng 02 kg, trị giá 220.000đồng của ông Vũ Văn Ư và bà Nguyễn Thị Th2 ở thôn P.B, xã C.P, huyện Cẩm Giàng. Tổng tài sản trộm cắp trị giá 880.000đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi này không những làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự, an ninh tại địa phương mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lợi dụng sự sơ hở quản lý tài sản của người khác để chiếm đoạt tài sản của họ là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền tiêu xài, lại lười lao động nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới hai triệu đồng nhưng bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên hành vi và giá trị tài sản của bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó,Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt TNHS): Bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính và đã bị Tòa án kết án về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện cho bản thân mà lại tiếp tục hành vi phạm tội do cố ý, do vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo được xác định là "tái phạm" phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; giá trị tài sản bị cáo gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét áp dụng tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự cân nhắc, tính chất , mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.

. Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Vũ Văn Ư, bà Nguyễn Thị Th2, ông Vũ Bá Th1 và anh Nguyễn Công S đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

+. Đối với 02 bao dứa màu vàng kẻ xanh cam; 01 chiếc vợt có lưới màu xanh; 01 đèn pin có dây đeo là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+. Đối với 01biển kiểm soát số 89H7- 4993 theo kết quả tra cứu tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dương thì không xác định được chủ xe nên cần tịch thu tiêu hủy.

+. Số tiền 1.500.000đồng mà T trả cho bị cáo và Đ1 do bán chó, mèo đã trộm cắp được cho T, đây là tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

. Về các vấn đề khác:

+. Đối với hành vi của Vũ Hoàng Đ1 cùng Nguyễn Văn Đ đi trộm cắp tài sản, Vũ Mạnh T biết việc Đ1, Đ đi trộm cắp chó, mèo để bán lại cho mình nhưng vẫn đồng ý mua. Đ1 và T chưa có tiền án, tiền sự về các tội chiếm đoạt tài sản và tài sản chiếm đoạt dưới hai triệu đồng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 24/9/2020 Công an huyện Cẩm Giàng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đ1,T là đúng quy định pháp luật.

+. Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu trắng xanh, BKS 34B1-929.15 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị N (mẹ của Nguyễn Văn Đ), bà Phạm Thị N không biết Đ mượn xe môtô để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý. Ngày 02/11/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đã trả lại xe môtô cho bà N là đúng quy định pháp luật.

. Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội ‘‘Trộm cắp tài sản‘‘.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (mười)tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2020.

[2]. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bao dứa màu vàng kẻ dọc xanh cam; 01 chiếc vợt có lưới dài 1,2m, lưới màu xanh, miệng vợt bằng kim loại màu trắng đường kính 0,5m, cán vợt bằng tre dài 1,3m; 01 chiếc đèn pin dài 21,5cm, phần đuôi được quấn băng dính màu đen, phần nhựa phía trước màu đỏ có dây đeo màu đen; 01 biển kiểm soát 89H7- 4993.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.500.000đồng.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng ngày 03/12/2020).

[3].Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ