vanban.org

Bản án 73/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2019/HS - ST
Ngày: 14-5-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Hiệp;

2/ Bà Nguyễn Thị Nữ.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2019/QĐXXST – HS ngày 23 tháng 4 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2019/QĐST – HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Ho ̣ và tên: Dương Đình T, sinh ngày 27/5/1998. Tại: Hà Tĩnh. Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trinh đô ̣̀

học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Đình L và bà Lê Thị H; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/12/2018 và tạm giam cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Trọng L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ A, khu phố Y, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Đình T và đối tượng nam tên X (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn. Do cả hai không có việc làm ổn định nên rủ nhau đi lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 31/12/2018, X điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (không rõ biển số) chở Dương Đình T đi đến khu A, phường L, thành phố M, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, cả hai đi đến ngôi nhà tại địa chỉ số XX, đường B, thuộc khu phố A, phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương của anh Lê Trọng L, sinh năm 1988, đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương thuê ở thì T và X phát hiện trong sân nhà có dựng 03 chiếc xe mô tô hai bánh nên T và X đã dừng xe lại. X xuống xe đi về phía cổng và dùng 01 cây đoản sắt để phá khóa cổng, còn T đứng bên ngoài cảnh giới. Khi đã phá được khóa cổng, X đi vào trong sân và dùng tay đẩy xe mô tô hiệu Yamaha Exiter, màu đen – vàng, biển số 61G1 – 438.XX của anh Lê Trọng L ra ngoài cổng chỗ T đang đứng đợi. Sau đó, X đưa xe cho T để T ngồi lên xe mô tô hiệu Yamaha Exiter, màu đen – vàng, biển số 61G1 – 438.XX còn X điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (Không rõ biển số) đẩy xe mô tô T đang ngồi đi tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai đi được khoảng 07 km thì bị Lực lượng phòng chống tội phạm phường Phú Hòa phát hiện nghi vấn và truy đuổi; X thấy vậy nên tăng ga bỏ chạy thoát còn T bị Lực lượng phòng chống tội phạm phường Phú Hòa bắt giữ cùng vật chứng là xe mô tô hiệu Yamaha Exiter, màu đen – vàng, biển số 61G1 – 438.XX. Qua làm việc, T khai nhận chiếc xe trên được T và X trộm cắp trên địa bàn phường Phú Lợi nên Lực lượng phòng chống tội phạm phường Phú Hòa chuyển giao T cùng vật chứng cho Công an phường Phú Lợi, sau đó Công an phường Phú Lợi chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 21/KLTS-TTHS ngày 09/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận:

- 01 xe mô tô, hiệu Yamaha Exciter, màu đen – vàng, biển số 61G1 – 438.XX, trị giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Đối với xe mô tô, hiệu Yamaha Exciter, màu đen – vàng, biển số 61G1 –438.XX, số máy: G3D4E0048YY, số khung: 0610EY0048YY, quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của Lê Trọng L đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe nên ngày 11/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 57 trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Trọng L. Hiện tại, anh Linh không yêu cầu gì đối với Dương Đình T.

Cáo trạng số 73/CT – VKSND – HS ngày 26/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Dương Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm vấn đề nào khác nên không đề nghị giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lờ i khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 31/12/2018, Dương Đình T cùng với đối tượng tên X đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đen – vàng, biển số 61G1

- 438.XX, trị giá 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) của ông Lê Trọng L tại nhà số XX, đường Bùi Văn B, Khu Y, phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương. Do đó, hành vi mà bị cáo Dương Đình T thực hiện, đã đủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Trộm cắp tài sản” được quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 173 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀

. Bi ̣ cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm pha ̣m đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội vớ i lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiê ̣n.

Tinh tiết tăng nă ̣̀

ng trách nhiê ̣m hinh sự̀

: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy đi ̣nh ta ̣i điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bô ̣ luâ ̣t Hình sự. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm vấn đề nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hinh sự̀

; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự.

Xử pha ̣t bị cáo Dương Đình T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2018.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4/ Về biện pháp tư pháp: Không có.

5/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghin đồng) án phí hình sự̀ sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

̀

̉ SƠ THẨM

Cỡ chữ