- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2019/HS-ST Ngày 11- 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị L.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hoan;
2. Bà Nguyễn Thị Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lự - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên toà: Bà Nuyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2019/HSST ngày 29/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2019/QĐXXST - HS ngày 27/9/2019 đối với bị cáo:
Tăng Văn L, sinh năm 1996; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn L 2, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng Văn L và bà Giáp Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 51/2015/HSST ngày 15/7/2015, Tòa án nhân dân huyện L xử phạt Tăng Văn L 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; Ngày 29/4/2016,Tăng Văn L chấp hành xong hình phạt tù; Ngày17/9/2015,Tăng Văn L chấp hành xong án phí HSST 200.000đ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/03/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 27/03/2019 tại quán “Mỳ cay” thuộc phố Bình Minh, thị trấn Đồi Ngô, huyện L,tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn Đồi Ngô đã bắt quả tang Tăng Văn L đang thực hiện hành vi tràng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Tăng Văn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu hồng; 01 chiếc túi xách bằng da của Tăng Văn L, bên trong có 02 viên nén hình tròn màu xanh (nghi là ma túy tổng hợp); Thu giữ tại nền nhà quán “Mỳ cay” nơi Tăng Văn L ngồi có 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu kín, một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, bên trên có đường viền màu đỏ, trên bề mặt có dòng chữ “BOCALEX” màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp). Tổ công tác Công an huyện L tiến hành niêm phong vật chứng nghi là ma túy vào trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT1” và “QT2”. Quá trình khám xét tại nơi ở của Tăng Văn L, Cơ quan điều tra thu giữ các vật chứng gồm:
- Thu giữ tại túi áo khoác màu trắng trong tủ quần áo của Tăng Văn L: 01 túi nilon màu trắng trên đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng và đường viền màu đỏ, bên ngoài có ký hiệu BOCALEX màu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa màu trắng và đường viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng (Nghi là ma túy tổng hợp) cùng 15 viên nén hình tròn màu xanh, trên bề mặt có ký hiệu hình con thỏ và 14 viên nén hình tròn màu cam, bên trên đều có ký hiệu hình con ngựa (nghi là ma túy tổng hợp).
- Thu giữ tại túi áo da màu đen trong tủ quần áo của Tăng Văn L: 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, trên đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng và đường viền màu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa màu trắng và đường viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng (Nghi là ma túy tổng hợp). Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”.
Ngày 28/03/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định số 75, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang (PC09) giám định vật chứng nghi là ma túy tổng hợp niêm phong trong các phong bì thư ký hiệu “QT1”,”QT2” và “KX”. Tại kết luận giám định số 401KL-KTHS ngày 01/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định:
02 viên nén hình tròn màu xanh là chất ma túy MDMA (3,4-Methylenedioxmethanphetamine), có khối lượng 0,635 gam.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định:
Chất bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng có một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, viền màu đỏ, trên túi nilon có chữ “BOCALEX” màu đỏ đều là chất ma túy Ketamine, có khối lượng 4,748 gam.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “KX” đã được niêm phong gửi giám định:
+ Chất bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa màu trắng, viền màu đỏ, trên túi nilon có chữ “BOCALEX” màu đỏ là chất ma túy Ketamine, có khối lượng 2,808 gam.
+ Trong 01 túi ni lon màu trắng có một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, viền màu đỏ, trên túi nilon có chữ “BOCALEX” màu đỏ:
Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, viền màu đỏ là chất ma túy Ketamine, có khối lượng 1,041 gam.
29 viên nén hình tròn, trong đó có: 15 viên nén màu xanh và 14 viên nén màu cam đều là chất ma túy MDMA (3,4-Methylenedioximethanphetamine), có tổng khối lượng 8,514gam.
Ngày 05/4/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định thực nghiệm điềut ra cho Tăng Văn L đi chỉ vị trí bắt giữ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thực hiện lại toàn bộ hành vi cất giấu, chia nhỏ ma túy tại thôn Già Khê Làng,xã Tiên Hưng,huyện L và Phố Bình Minh, TT Đồi Ngô,huyện L,tỉnh Bắc Giang. Kết quả thực nghiệm điều tra, Tăng Văn L đã diễn tả lại toàn bộ quá trình phạm tội của mình đều phù hợp với kết quả điều tra.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Tăng Văn L khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 29/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Tăng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tăng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”; Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo L từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Về hình phạt bổ sung, miễn phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo không có tài sản và không có thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư có ký hiệu “QT1”, “QT2” và “KX” được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định, 01 túi xách da màu đen của Tăng Văn L. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu hồng.
Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo Tăng Văn L khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 16 giờ 20 phút, ngày 27/3/2019, tại quán Mỳ cay thuộc phố Bình Minh, thị trấn Đồi Ngô, huyện L, tỉnh Bắc Giang, khi Tăng Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại MDMA có khối lượng 0,635 gam và ma túy loại Ketamine có khối lượng 4,748 gam. Quá trình điều tra xác định Tăng Văn L còn tàng trữ trái phép chất ma tuý Ketamine có khối lượng 3,849 gam và ma túy loại MDMA có khối lượng 8,514 gam tại thôn Già Khê Làng, xã Tiên Hưng,huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tổng khối lượng chất ma túy do Tăng Văn L tàng trữ trái phép là 9,149 gam MDMA và 8,597 gam ma túy Ketamine, bị cáo hai đều mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm tới chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định điểm n khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và ông nội bị cáo được tặng thưởng huân huy chương khác chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo có tính tiết giảm nhẹ cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt bằng mức khởi điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo không có tài sản và không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư có ký hiệu “QT1”, “QT2” và “KX” được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định, 01 túi xách da màu đen của Tăng Văn L. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu hồng là công cụ dùng vào việc phạm tội của bị cáo.
Về những vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy thì Tăng Văn L khai là do L mua của một người thanh niên không biết tên do anh Khang có địa chỉ ở Sài Gòn (không rõ địa chỉ cụ thể) giới thiệu, bản thân L không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người bán ma túy cho L, và người thanh niên tên Khang. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với Phạm Văn Mạnh là người lái xe taxi đưa Tăng Văn L về phòng trọ ở thôn Già Khê Làng, xã Tiên Hưng, huyện L và đưa L đến quán Mỳ cay ở phố Bình Minh, TT Đồi Ngô. Trong quá tình đưa đón L, anh Mạnh không biết việc L mang theo ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Sỹ Tuyển là người thuê nhà và cho L ở cùng, bản thân anh Tuyển không biết việc L tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Trần Quang Huy là bạn của L ( Huy có mặt tại phòng trọ của Tăng Văn L khi Cơ quan điều tra tiến hành khám xét), được L mời đến phòng trọ chơi từ ngày 23/5/2019. Bản thân anh Huy không biết việc L tàng trữ ma túy, nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm n, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Đều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tăng Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tăng Văn L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 27/03/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư có ký hiệu “QT1”, “QT2” và “KX” được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc giang, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, 01 túi xách da màu đen của Tăng Văn L.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu hồng.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Tăng Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Án xử công khai sơ thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Giang;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND huyện L;
- Công an huyện L;
- Chi cục THADS huyện LN;
- UBND xã L;
- Bị cáo;
- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị L
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hữu Thái – Nguyễn Thị Hoan
Nguyễn Thị L
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện L; - Công an huyện L; - Chi cục THADS huyện LN; - UBND xã Tiên Hưng; - Bị cáo, người liên quan; - Lưu: VP và hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị L |