vanban.org

Bản án 73/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 04/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đình K, sửa phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2019/HS-ST ngày 31/5/2019 của Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình K - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2019/HS-PT
Ngày 04-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm.

Các Thẩm phán: Ông Lộc Sơn Thái;

Bà Nguyễn Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Tống Văn Giang– Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét

xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 97/2019/TLPT-HS

ngày 23 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Đình K do có kháng cáo của bị

cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2019/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm

2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đình K, sinh ngày 27/7/1993 tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Nơi

đăng ký thường trú: Thôn D, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: Đường B,

khu L, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ

văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt

Nam; con ông Nguyễn Đình C và bà Hoàng Thị T; có vợ là Đỗ Thị H và 02 con;

tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 12/8/2016 bị Công an huyện Hữu

Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây tổn hại cho

sức khỏe của người khác (đã chấp hành xong ngày 12/8/2016). Bị cáo bị áp

dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/5/2019 đến nay; có

mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH vận tải X. Địa chỉ: Đường N, phường Y, thành

phố C, tỉnh Bắc Ninh.

- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH vận tải X: Ông Nguyễn

Ngọc K, chức vụ: Phó Giám đốc. Địa chỉ: Đường N, phường Y, thành phố C,

tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có 03 bị cáo không có kháng cáo, không bị

kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 20/5/2019, Nguyễn Mạnh Q, Trần văn T, Nguyễn

Đình K và Phạm Đức A cùng một số người quen khác đi hát Karaoke. Đến khoảng 22 giờ Nguyễn Mạnh Q lấy xe mô tô biển kiểm soát: 12H1-311.** chở bạn gái là P và 01 bạn nữ khác không biết tên để bạn nữ đó về nhà ở huyện G, tỉnh Bắc Giang. Sau đó Nguyễn Mạnh Q chở bạn gái là P quay về quán Karaoke. Trên đường đi Nguyễn Mạnh Q gặp 01 ô tô khách loại xe giường nằm vượt lên phía trước gây cản trở hướng đi của mình. Thấy vậy, Nguyễn Mạnh Q đi xe mô tô vượt lên phía trước đầu xe khách và yêu cầu lái xe ô tô dừng lại để nhắc nhở. Khi xe khách dừng lại thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Sau đó Nguyễn Mạnh Q chở P về quán hát và đi ra đường quốc lộ 1A, mục đích để chặn ô tô khách vừa xảy ra mâu thuẫn với mình thì thấy Trần văn T đang đứng gần đó. Nguyễn Mạnh Q nói với Trần văn T đang có việc cần giải quyết. Ngay sau đó, Nguyễn Mạnh Q nhìn thấy 02 xe ô tô chở khách loại xe giường nằm chạy theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn có đặc điểm gần giống như xe ô vừa xảy ra mâu thuẫn với mình thì chạy ra quốc lộ 1A chặn xe ô tô lại. Khi ô tô dừng lại thì Nguyễn Mạnh Q và Trần Văn T bị nhóm thanh niên phía nhà xe đuổi, cả hai chạy vào khu vực quán hát karaoke để tìm hung khí và gọi bạn ra hộ mình đánh lại nhóm thanh niên phía nhà xe. Trên đường chạy vào nhà, Nguyễn Mạnh Q nhặt lấy hai vỏ chai bia đập vào nhau mỗi tay cầm một cổ chai chạy đến chỗ bàn uống nước cạnh bàn thu ngân quán hát gọi nhóm bạn đang ngồi ở đó. Lúc đó Trần văn T cũng chạy đến và hô "có đánh nhau" rồi đưa cho Nguyễn Đình K, Nông Chế L mỗi người một cốc thủy tinh. Trần văn T, Nguyễn Đình K, Nông Chế L cầm cốc thủy tinh ném về phía nhóm thanh niên nhà xe nhưng không trúng ai. Thấy vậy nhóm thanh niên phía nhà xe quay về xe chốt cửa lại nên Nguyễn Mạnh Q, Trần văn T, Phạm Đức A, Nguyễn Đình K đã dùng gạch, đá, vỏ chai bia, cay, sỏi,... ném nhiều phát trúng vào xe ô tô khách biển kiểm soát 99-017.**. Nguyễn Đình K là người dùng viên cay bê tông ném trúng phần mạn sườn sơn màu đỏ dưới kính chắn gió bên phải làm cho xe bị bong sơn; các bị cáo khác làm vỡ 02 tấm kính và bị bong sơn, bẹp lõm phần kim loại.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 23/5/2019 của Hội đồng định giá tài

sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99B-017.** nhãn hiệu HUYNDAI AERO HI-SPACE, loại xe ô tô khách giường nằm, sản xuất năm 2016 tại Hàn Quốc bị hư hỏng cụ thể:

- 01 tấm kính sườn kích thước 2,15m x 1,33m: 5.000.000 đồng.

- 01 tấm kính sườn kích thước 2,04m x 1,33m: 5.000.000 đồng.

- Công thay thế lăp đặt 02 tấm kính sườn kích thước 2,15m x 1,33m và

2,04m x 1,33m: 1.000.000 đồng.

- Công gò nắn, sơn trụ cửa xe: 2.000.000 đồng.

- Công sơn sườn bên phụ của xe: 2.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng: 15.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày

18/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố các

bị cáo Nguyễn Mạnh Q, Trần văn T, Nguyễn Đình K và Phạm Đức A phạm tội

Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản

1 Điều 52; Điều 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh

Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày

24/5/2019.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 50;

58 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Trần văn T 09 (chín) tháng tù, xử phạt bị

cáo Nguyễn Đình K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ

ngày các bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 50;

58; 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Phạm Đức A 08 (tám) tháng tù cho

hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày xét

xử sơ thẩm.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và quyền kháng

cáo của các bị cáo, bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định ngày 25/7/2019 bị cáo

Nguyễn Đình K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo

giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận

kháng cáo của bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Với các tài liệu có trong hồ sơ và lời

khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm hôm nay thấy Bản

án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản là đúng người,

đúng tội không oan. Về hình phạt Bản án sơ thẩm đã xem xét đến tính chất, mức

độ hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức án 8 (tám) tháng tù giam là

phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đưa ra tình tiết mới là 01 đơn xin giảm nhẹ

hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, 01 đơn xin cho bị cáo được

hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của bị hại bị hại, 01 đơn trình bày

hoàn cảnh gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết

giảm nhẹ mới, cần cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản

2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015. Xét thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự,

có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có đủ điều kiện được hưởng án

treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-05-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình K đều thừa

nhận hành vi phạm tội của mình, Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Xét

yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đã áp dụng đầy đủ quy định của pháp luật theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 08 (tám) tháng tù giam là thỏa đáng. Trong vụ án này bị cáo không có tiền án, tiền sự. Ngày 12/8/2016 bị cáo bị Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (đã chấp hành xong ngày 12/8/2016). Như vậy, bị cáo đã được xóa tiền sự từ ngày 13/8/2017.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm được tình tiết mới là 01 đơn

xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, 01 đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của bị hại, 01 đơn trình bày hoàn cảnh gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ, nên cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có vai trò thứ yếu, bị rủ rê, lôi kéo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ vào quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-05-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và chuyển cho bị cáo được hưởng án treo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định

trên nên được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; Điều 135 Bộ

luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đình K, sửa

phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2019/HS-ST ngày 31/5/2019 của

Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo Nguyễn Đình K,

cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65,

50, 58 Bộ luật Hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số:

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ

Quốc hội.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo về

tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ

ngày tuyên án phúc thẩm (04/10/2019).

Giao bị cáo Nguyễn Đình K cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H,

tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối

hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám

sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú

thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án

có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho

hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc

người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt

của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình K không phải chịu án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ