- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn T H xin ly hôn ông Nguyễn Duy T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18/9/2019 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Sẩm Dắt Phắn.
2. Bà Nguyễn Thị Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai: bà Nguyễn Thị Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 54/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Nguyễn T H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: 12/60 đường N, phường 2, quận 4, TP. H
2. Bị đơn: ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp 3, xã G, huyện Đ, tỉnh Đ.
(bà H có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà H trình bày:
-Về hôn nhân: bà và ông T sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường 2, quận 4, TP. Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/5/2008. Sau khi kết hôn hai vợ cH bà sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ cH bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi nhau, ông T có hành vi đánh đập bà. Từ tháng 01/2009 ông T tự ý sống ly thân cho đến nay. bà nhiều lần tìm cách hòa giải nhưng không có kết quả.
Nay bà nhận thấy cuộc sống vợ cH không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.
-Về con chung: bà và ông T có 01 con chung là Nguyễn T Tường V, sinh ngày 23/12/2008. Ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
-Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Bị đơn ông Nguyễn Duy T đã được tống đạt các văn bản theo trình tự tố tụng nhưng không tham gia tố tụng và không cung cấp văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
*Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết tranh chấp: mâu thuẫn vợ cH giữa bà H và ông T đã trầm trọng, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn T Tường V, sinh ngày 23/12/2008. Ly hôn giao cho bà H nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: ông Nguyễn Duy T cư trú tại: ấp 3, xã G, huyện Đ, tỉnh Đ, nên đơn khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn bà H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn ông T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông T có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường 2, quận 4, TP. Hồ Chí Minh vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ cH xảy ra mâu thuẫn, nay bà H có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà nên Tòa án áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.
Xét mâu thuẫn vợ cH giữa bà H và ông T xảy ra từ năm 2008 đến nay, nguyên nhân do hai vợ cH bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi, ông T có hành vi đánh đập bà H. Giữa hai vợ cH đã tìm cách hòa giải khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ chung sống nhưng không có kết quả. Hai vợ cH bà H và ông T ly thân với nhau từ tháng 1/2009 cho đến nay.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông T vẫn vắng mặt, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ và tham gia tố tụng tại phiên tòa, chứng tỏ ông T không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của mình.
Qua xác minh tại địa phương thì đại diện địa phương cho biết vợ cH bà H và ông T có mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ cH bắt đồng quan điểm nên thường xẩy ra tranh cãi, hai vợ cH ly thân từ tháng 1/2009 đến nay.
Từ những nhận định trên, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ cH giữa bà H và ông T laø trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H, bà H được ly hôn với ông T.
Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn T Tường V, sinh ngày 23/12/2008. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V. Hiện tai cháu V đang chung sống với bà H, bà H đi làm có thu nhập đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu V. Nguyện vọng cháu V muốn chung sống cùng bà H, ông T không có ý kiến về phần này. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu V cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà H phải nộp 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân dân sự.
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 89, Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Luật Hôn nhân và Gia đình 2000.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn T H.
-Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn T H được ly hôn ông Nguyễn Duy T.
-Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn T Tường V, sinh ngày 23/12/2008. Ly hôn giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông T được quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con
-Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
-Về án phí: bà Nguyễn T H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002297 ngày 10/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán.
Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND P. 2, Q4, Tp. HCM; - VKS ND H. Định Quán; - THA DS H. Định Quán; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Đại |