vanban.org

Bản án 73/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 36 tháng tù tại bản án này với hình phạt còn lại phải thi hành 04 tháng 16 ngày tù tại Bản án số 53/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn S phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2018/HS-ST
Ngày: 29 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Phương

Bà: Đặng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Văn S sinh ngày: 29 tháng 01 năm 1988 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: tổ dân phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn H; sinh năm: 1965; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH XD và TM H và bà: Thái Thị H; sinh năm: 1966; nghề nghiệp: Nội trợ; Hiện ông, bà trú tại: tổ dân phố H, phường H, thành phố H, Quảng Bình; có vợ: Lê Thị Huyền G; sinh năm: 1990; nghề nghiệp: Lao động tự do; hiện trú tại: tổ dân phố H, phường H, thành phố H, Quảng Bình; Con: có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án: Ngày 24/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; nhân thân: Sinh ra và lớn lên được gia đình nuôi ăn học hết lớp 09/12 thì nghỉ học ở nhà. Ngày 03/11/2004 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 01/3/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/5/2005 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 19/5/2005 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 22/02/2006 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 300.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 11/12/2013 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 24/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 21/8/2018 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên tòa theo Lệnh trích xuất.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH XD và TM H, địa chỉ tổ dân phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; người đại diện theo pháp luật: ông Võ Văn H, sinh năm 1965 – giám đốc. Có mặt.

- Bị hại: Chị Võ Thị Thu H, sinh ngày 22/12/1998; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn H, sinh ngày 22/02/1990; địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Anh Võ Đức C, sinh ngày 16/10/1994; địa chỉ: Tiểu khu 4, thị trấn H, huyện N, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

3. Anh Hoàng Kim T, sinh ngày 29/11/1993; địa chỉ: Tiểu khu 6, thị trấn H, huyện N, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

4. Chị Bùi Thị Phương T, sinh ngày 08/12/1985; địa chỉ: Tổ dân phố 15, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; nơi làm việc: Công ty TNHH XD và TM H, địa chỉ tổ dân phố H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 01giờ 00 phút ngày 29/4/2018, Võ Văn S leo lên tầng 02 nhà số 398 đường T thuộc Tổ dân phố H, phường H đang xây dựng, rồi đi qua sân thượng nhà chị Võ Thị Thu H. S nhặt một thanh gỗ trên sân thượng cạy phá cửa sổ đột nhập vào trong, đi xuống phòng khách tầng 01 phát hiện xe mô tô hiệu HONDA - AirBlade, BKS: 73V2-66.. dựng trong phòng, chìa khóa cắm trên xe. S mở cửa phòng khách lấy trộm xe mô tô điều khiển xe theo đường Quốc lộ 1A chạy lên hướng huyện N. Dọc đường S dừng xe mở cốp kiểm tra bên trong có 800.000 đồng, giấy đăng ký xe và một số giấy tờ tùy thân của chị H. S giữ lại số tiền trên và giấy đăng ký xe, số giấy tờ còn lại S vứt lại bên đường không rõ địa chỉ. Sau đó mang đến thế chấp cho Trần Văn H (chủ hiệu cầm đồ Anh H) ở thôn P, xã N, huyện N lấy 17.500.000 đồng tiêu xài hết.

Kết luận định giá số 432/KL-ĐG ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: xe mô tô hiệu HONDA - AirBlade, BKS: 73V2-66.. trị giá 15.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới đã truy tìm nhưng không thu hồi được giấy tờ S vứt bỏ; thu giữ và trả lại cho chị Võ Thị Thu H 01 xe mô tô hiệu HONDA - AirBlade, BKS: 73V2-66.. và 01 giấy đăng ký xe mang tên ông Võ Văn T. Chị H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Anh Trần Văn H yêu cầu S bồi thường số tiền 17.500.000 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng 14giờ 00 phút ngày 30/5/2018, Võ Văn S đi bộ đến kho hàng Công ty TNHH XD và TM H (Công ty của ông Võ Văn H, bố ruột S) ở Tổ dân phố H, phường H. S leo hàng rào đột nhập vào trong. Phát hiện phòng kế toán không khóa cửa, trong phòng không có ai, S lấy trộm chìa khóa xe ô tô hiệu THACO, BKS: 73C-082… để trong hộc bàn làm việc, rồi đợi chị Bùi Thị Phương T kế toán của công ty đến mở cổng. S vào gara điều khiển xe ô tô trên đến gặp Võ Đức C ở tiểu khu 4, thị trấn H, huyện N nhờ C dẫn S mang ô tô thế chấp cho Hoàng Kim T ở tiểu khu 6, thị trấn H, huyện N vay 30.000.000 đồng, S cho C 1.000.000 đồng. Ngày 01/6/2018 S đến gặp T lấy thêm 10.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên S tiêu xài hết.

Kết luận định giá số 322/KL-ĐG ngày 19/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: xe ô tô hiệu THACO, BKS: 73C-082… trị giá 170.000.000 đồng.

Ông Võ Văn H đã trả lại đầy đủ số tiền S vay của Hoàng Kim T và lấy lại xe ô tô trả lại cho Công ty TNHH XD và TM H. Công ty đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT - VKSĐH -KT ngày 05 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Võ Văn S ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn H không yêu cầu bị cáo Võ Văn S bồi thường số tiền 17.500.000 đồng. Nguyên đơn dân sự - Công ty TNHH XD và TM H, người bị hại - chị Võ Thị Thu H đều không có yêu cầu gì về dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Võ Văn S đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng hình phạt. Đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm g và tiết 1, điểm h, khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Võ Văn S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 53/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt Võ Văn S 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Thi hành án từ ngày 03/10/2017 đến ngày 20/8/2018. Võ Văn S đã thi hành được 322 ngày, số còn phải thi hành 409 ngày được chuyển đổi sang phạt tù là 04 tháng 16 ngày. Áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt của Bản án số 53/HSST ngày 24/8/2017 buộc S phải thi hành phần hình phạt còn lại.

Trong vụ án này có Võ Đức C, Hoàng Kim T và Trần Văn H là những người có liên quan đến tài sản do S phạm tội mà có nhưng không biết nên không phạm tội.

Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn S khai nhận việc thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Trong tháng 4 và tháng 5/2018 Võ Văn S đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Võ Thị Thu H và của Công ty TNHH XD và TM H. Tổng giá trị tài sản 185.800.000 đồng. Vì vậy, Võ Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Võ Văn S theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Võ Văn S là thanh niên đã trưởng thành, có gia đình vợ con, đáng lẽ ra bị cáo phải là người chồng, người cha tốt, là tấm gương, là trụ cột cho gia đình nhưng bị cáo không làm được điều đó mà bị cáo lại đi lang thang chơi bời lêu lổng. Bị cáo đang trong thời gian chấp hành án tại địa phương nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo mình mà chỉ vì thích sống hưởng thụ, muốn có tiền tiêu xài, lợi dụng sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, mặc dù nhận thức được việc làm đó là vi phạm nhưng bất chấp vẫn thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu nên đòi hỏi phải có hình phạt nghiêm khắc để xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Võ Văn S đã trực tiếp thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần áp dụng đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn S đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án, theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:

Bản án số 53/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt Võ Văn S 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Võ Văn S thi hành án từ ngày 03/10/2017 đến ngày 20/8/2018. Võ Văn S đã thi hành được 322 ngày, số còn phải thi hành 409 ngày được chuyển đổi sang phạt tù là 04 tháng 16 ngày.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của Bản án số 53/HSST ngày 24/8/2017 buộc bị cáo Võ Văn S phải thi hành phần hình phạt còn lại.

Trong vụ án này có Võ Đức C, Hoàng Kim T và Trần Văn H là những người có liên quan đến tài sản do S phạm tội mà có nhưng không biết nên không phạm tội. Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở rút kinh nghiệm chung trong công tác phòng chống tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Anh Trần Văn H không yêu cầu Võ Văn S bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Trong vụ án có bị hại là chị Võ Thị Thu H sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới trả lại cho chị Võ Thị Thu H xe mô tô hiệu HONDA - AirBlade, BKS: 73V2-66.. và 01 giấy đăng ký xe mang tên ông Võ Văn T (ông T là bố đẻ của chị H; ông Võ Văn T đã mất) thì chị H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Võ Văn H (bố đẻ của bị cáo S) đã trả lại đầy đủ số tiền Võ Văn S vay của Hoàng Kim T và lấy lại xe ô tô trả lại cho Công ty TNHH XD và TM H. Công ty TNHH XD và TM H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới đã truy tìm nhưng không thu hồi được giấy tờ S vứt bỏ; thu giữ và trả lại cho chị Võ Thị Thu H 01 xe mô tô hiệu HONDA - AirBlade, BKS: 73V2-66.. và đăng ký xe xe mang tên ông Võ Văn T. Sau khi nhận lại tài sản, chị Võ Thị Thu H không có yêu cầu gì thêm và việc xử lý vật chứng vụ án nêu trên của cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Về án phí: Bị cáo Võ Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà Nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm g và tiết 1, điểm h, khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 36 tháng tù tại bản án này với hình phạt còn lại phải thi hành 04 tháng 16 ngày tù tại Bản án số 53/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, hình phạt chung của hai bản án buộc bị cáo Võ Văn S phải chấp hành là 40 tháng 16 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 21/8/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Văn S với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Võ Văn S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2018). Đối người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ