vanban.org

Bản án 73/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 28/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S “Tức S “Sứt”) và bị cáo Dương Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h của Bộ lu t Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S (Tức S “Sứt”) 02 (Hai) năm 07 (Bảy) tháng t , th i hạn chấp hành hình phạt t tính t ngày bị b t tạm gi , tạm giam ngày 28 tháng 9 năm 2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S “Tức S “Sứt”) và bị cáo Dương Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2018/HS-ST
Ngày 28 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ H ng h c

Ông Đoàn Văn Đoan

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên toà: Ông im Bách Chi n - iểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh h c xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2018/TLST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2018, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn S (tức S “Sứt”), sinh ngày 26 tháng 11 năm 1987; Sinh tr quán: Thôn CB 3, xã , huyện B, tỉnh Vĩnh h c; Chỗ sở hiện nay: Tổ Dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh h c; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn h a: 9 12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; con ông Nguyễn Văn , sinh năm 1964 và bà Lê Thị M, sinh năm 1967; c v là Nguyễn Thị TH, sinh năm 1981; con: Chưa c ; Tiền sự: hông; Tiền án: 01 tiền án tại bản án hình sự số: 23 2014 HSST ngày 20 3 2014 bị T a án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm t về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đư ng bộ”, chấp hành xong hình phạt t t ngày 26 01 2017; Bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 28/9 2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh h c.

2. Dương Đức T (tên gọi khác V), sinh ngày 11 tháng 4 năm 1994; nơi sinh và cư tr : Thôn , xã V, huyện Y, tỉnh Vĩnh h c; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; con ông Dương Văn X và bà V Thị H; c v là hạm Thị Thu B đã ly hôn; c 02 con, lớn sinh năm 2014, nh sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: hông; về nhân thân: Tại bản án hình sự số: 02 2014 HSST ngày 10 01 2014 bị T a án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt 03 năm 06 tháng t về tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo đư c đ c xá và chấp hành án xong ngày 31 8 2015; Bị cáo tại ngoại tại địa phương theo lệnh cấm đi kh i nơi cư tr của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Yên Lạc.

(Các bị cáo đều c m t tại phiên t a).

Người bị hại: Anh Nguyễn h c Đ, sinh năm 1973, (c m t).

Địa chỉ: Thôn L, xã NĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh h c

Ngườicóquyềnlợi, nghĩa vụliênquan:Chị Nguyễn Thị TH, sinhnăm 1981, (c m t).

Địa chỉ: Tổ Dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh h c.

Người làm chứng:

1. Cháu Nguyễn Thị hánh C, sinh năm 2004, (có m t).

Ngư i đại diện h p pháp cho cháu C là Chị Tạ Thị Y, sinh năm 1975, (có m t).

Địa chỉ: Thôn L, xã NĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh húc

2. Anh B i Văn E, sinh năm 1996, (v ng m t).

Hộ khẩu thư ng tr : Thôn N, xã V , huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Hiện tạm tr tại: Thôn L, xã NĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh h c.

3. Chị Hà Thị G, sinh năm 1980, (v ng m t).

4. Hà Thị NH, sinh năm 1979, (v ng m t).

Đều c hộ khẩu thư ng tr tại: xã LĐ, huyện T, tỉnh h Thọ

C ng tạm tr tại: Thôn L, xã NĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh h c

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn bi n tại phiên t a, nội dung vụ án đư c t m t t như sau:

hoảng tháng 9 năm 2016, anh Nguyễn h c Đ; tr tại: Thôn L, xã NĐ, huyện Y c vay của chị Nguyễn Thị TH ở tổ dân phố Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh h c số tiền 110.000.000đ để kinh doanh. Ngày 30/4/2018 chị TH điện thoại đ i n nhưng anh Đ không trả và c nh ng l i n i thách thức. Quá trình n i chuyện với anh Đ, chị TH b t loa ngoài điện thoại nên Nguyễn Văn S là ch ng chị TH nghe đư c sự việc trên. hoảng 16 gi c ng ngày bị cáo S một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave B S 88G1 - 361.XX mang theo một con dao phớ b ng kim loại, lư i dài khoảng 80cm, bản rộng khoảng 05cm, chuôi b ng ống tuýp s t dài khoảng 20cm đ n quán t m quất, massage “TĐ” của anh Đ ở thôn L, xã NĐ để n i chuyện tuy nhiên anh Đ không ở nhà nên S ra về. Sau đ , chị TH ti p tục điện thoại cho anh Đ đ i n nhưng anh Đ vẫn n i giọng thách thức và không muốn trả tiền. Thấy v y, S điện thoại cho Dương Đức T; tr tại thôn , xã V, huyện Y rủ đ n nhà chơi. hi T đ n, S kể lại toàn bộ sự việc và bảo T đi tìm Đ n i chuyện nhưng chị TH can ngăn nên T ra về. Tối c ng ngày, S điều khiển xe mô tô B S: 88G1 - 361.XX đ n uống rư u m ng sinh nh t Dương Văn tại quán thịt ch “DĐ” ở thôn P, xã V thì g p T và một số ngư i khác c ng đang ở đây. hoảng 20 gi c ng ngày, S rủ T c ng đ n quán TĐ đánh cảnh cáo anh Đ thì T đ ng ý. S điều khiển xe mô tô chở T về nhà để T thay qu n áo c n mình quay lại nhà chị TH lấy con dao phớ mà buổi chiều S đã mang theo đ n nhà anh Đ đ ng th i chuẩn bị thêm một chi c g y r t ba kh c b ng kim loại, dài khoảng 60cm, một đ u g y bọc b ng m t màu đ . S gài dao vào giá xe và cất g y trong cốp xe r i quay lại đ n T. Tới nơi, S đưa cho T chi c g y ba kh c và một chi c khẩu trang y t màu đen r i chở T đ n nhà anh Đ. Trên đư ng đi T và S c ng đeo khẩu trang, T đội thêm chi c m lư i chai màu đen của S để tránh bị ngư i khác phát hiện. G n tới nhà anh Đ, S d ng xe đứng ngoài cảnh giới c n T một mình xuống xe tay phải c m g y vẩy ph ng ra tạo thành một đoạn g y dài khoảng 60cm đi đ n trước cửa quán TĐ. T d ng g y đ p 2, 3 phát vào ô cửa kính ch n gi làm v kính r i vụt một phát vào ph n đ u chi c xe mô tô dựng ở g n đ làm v gương xe. nh Đ liền c m một đoạn tuýp s t dài 0,65m, đư ng kính 2,5cm t trong quán đi ra thì T b chạy về hướng dốc L. nh Đ đuổi theo đư c khoảng 20m thì S c m dao phớ chạy ngư c chiều về phía anh Đ. hi đứng đối diện cách anh Đ khoảng 01m, tay phải S vung dao lên cao chém một phát t trên xuống tr ng vào v ng đ u làm anh Đ bị thương chảy máu ngã ra đư ng. nh Đ v ng d y vụt tuýp s t về phía S, S vung dao lên đ thì đ u đoạn tuýp s t xư t vào g má phải làm xây sát da. S ti p tục d ng ph n bản rộng của dao đánh 2, 3 phát tr ng vào ngư i anh Đ làm anh Đ ngã ra đư ng. Thấy v y, T chạy quay lại c m g y ba kh c vụt 4, 5 phát tr ng vào ngư i làm anh Đ bị thương tích và kêu đau, hô hoán. Các đối tư ng d ng lại không đánh anh Đ n a và c ng nhau lên xe mô tô b về. H u quả: nh Nguyễn h c Đ bị thương, ngay sau đ đư c mọi ngư i đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực h c Yên đ n ngày 16 5 2018 thì xuất viện về điều trị ngoại tr .

Sau khi nh n đư c trình báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã ti n hành khám nghiệm hiện trư ng, thu gi v t chứng và điều tra, xác minh theo Lu t định.

Ngày 04 tháng 5 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Lạc đã ra Quy t định trưng c u giám định thương tích số: 160 đối với thương tích của anh Nguyễn h c Đ. Tại bản k t lu n giám định pháp y về thương tích số: 165/TgT ngày 08/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh h c đã k t lu n: V t thương gốc ô mô t phía l ng bàn tay trái x p 01%; v t thương v ng trán trái, kích thước nh x p 01%; v t thương m t ngoài gối phải, kích thước nh x p 01%; v t mổ m t sau ngoài 1 3 dưới cẳng tay trái, kích thước lớn x p 08%; gãy 1 3 dưới xương trụ trái sau phẫu thu t ổn định c n phương tiện k t h p xương x p 06%; v t thương v ng trán trái và v t thương ô mô t phía l ng bàn tay trái c thể do v t s c gây nên; các v t xây sát da và gãy 1 3 dưới xương trụ trái c thể do v t tày gây nên. Các thương tích đã mô tả hiện tại không ảnh hưởng chức năng và thẩm mỹ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể ở th i điểm giám định x p 16% (mư i sáu ph n trăm) b ng phương pháp cộng lùi.

Quá trình điều tra, Dương Đức T đã thành khẩn khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên c n Nguyễn Văn S t thái độ không h p tác, thư ng xuyên v ng m t và c dấu hiệu b trốn kh i địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quy t định truy nã, ngày 28/9/2018 S bị b t theo Quy t định truy nã của Cơ quan điều tra. Sau khi bị b t gi , bị cáo đã khai nh n rõ hành vi phạm tội của bản thân hoàn toàn ph h p với các tài liệu, chứng cứ c trong h sơ vụ án.

Đối với ô cửa kính kích thước (1,3 x 0,59)m của quán TĐ bị Dương Đức T d ng g y đ p v , Cơ quan điều tra đã trưng c u định giá. Tại Văn bản số: 45/2018/KL-ĐG ngày 18 7 2018, Hội đ ng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Yên Lạc k t lu n: Công và v t tư thay mới ô cửa kính trên b ng 500.000đ (năm trăm nghìn đ ng). Qua xác minh nhân thân T chưa c tiền án, tiền sự về hành vi xâm phạm sở h u nên việc T d ng g y s t đ p phá ô cửa kính trên chưa đủ y u tố cấu thành tội “Cố ý làm hư h ng tài sản”, Công an huyện Yên Lạc đã xử phạt hành chính đối với T số tiền 3.500.000đ là đ ng Lu t định.

Đối với chi c gương xe mô tô dựng trước cửa quán TĐ bị T đ p v , sau khi sự việc xảy ra chủ sở h u chi c xe mô tô này đã đi kh i hiện trư ng, Cơ quan điều tra không xác định đư c là ai nên không định giá đư c giá trị thiệt hại do đ không đề c p xử lý là ph h p.

V t chứng của vụ án đã thu gi : Đoạn tuýp s t dài 0,65m, đư ng kính 2,5cm là hung khí anh Đ d ng để đuổi đánh các bị cáo do không c n giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. Một thẻ căn cước công dân, một giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn S không liên quan đ n vụ án nên trả lại cho bị cáo. Hai thẻ nhớ và một điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu Gold của anh Đ; một xe mô tô B S: 88G1 - 361.XX; một điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tr ng bạc l p sim thuê bao số 01683.741.564 của chị TH, chị TH không bi t và không liên quan đ n hành vi phạm tội của các bị cáo, do đ Cơ quan điều tra đã ra Quy t định xử lý v t chứng trả lại cho anh Đ và chị TH. Chi c USB màu tím - đen, dung lư ng 16GB của anh Đ chứa hình ảnh liên quan đ n th i điểm xảy ra vụ án nên chuyển theo h sơ để phục vụ việc xét xử.

Đối với số hung khí gây án, bị cáo Nguyễn Văn S khai đã cất giấu con dao phớ dưới g m giư ng nhà T và chi c g y ba kh c ở khu vực cổng nhà S, Cơ quan điều tra đã ti n hành xác minh, truy tìm nhưng không thu gi đư c nên không đề c p xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo S không c đề nghị gì đối với việc anh Đ vụt tuýt s t về phía S, tuýt s t xư t vào g má phải làm xây sát da của S nên không xem xét giải quy t.

Về trách nhiệm Dân sự: Quá trình điều tra, anh Nguyễn h c Đ yêu c u các bị cáo Nguyễn Văn S và Dương Đức T b i thư ng số tiền 100.000.000đ ng bao g m : Tiền viện phí là 30.000.000đ ng, tiền thu nh p bị mất và công ngư i chăm s c trong th i gian n m viện 16 ngày, tiền b i dư ng sức kh e là 70.000.000đ ng. Tại phiên t a các bị cáo và ngư i bị hại đã thống nhất đư c về mức b i thư ng với tổng số tiền là 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đ ng) g m các khoản sau: Tiền viện phí 8.500.000đ ng; Tiền thuê xe đi viện 1.000.000đ ng; tiền thu nh p bị mất trong th i gian 16 ngày anh Đ n m viện là 150.000đ ng 01 ngày x 16 ngày = 2.400.000đ ng; tiền công ngư i chăm s c 16 ngày là 150.000đ ng 01 ngày x 16 ngày = 2.400.000đ ng; tiền b i dư ng, phục h i sức kh e là 20.700.000đ ng.

Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Văn S, Dương Đức T và ngư i bị hại anh Nguyễn h c Đ c n thống nhất nội dung sau: Do y u tố về phục h i sức kh e trong khoảng th i gian một năm, anh Đ phải ti n hành các bước kiểm tra lại v t thương. N u phát sinh về kinh phí, anh Đ và các bị cáo c thể tự th a thu n về việc b i thư ng chi phí phát sinh này. N u không th a thu n đư c ngư i bị hại c thể khởi kiện ra T a b ng một vụ án dân sự yêu c u các bị cáo phải b i thư ng thiệt hại ngoài h p đ ng do sức kh e bị xâm phạm.

Tại bản Cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S (tức S “Sứt”) và bị cáo Dương Đức T về tội “Cố ý gây thương thích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, trình bày l i lu n tội, gi nguyên quy t định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S (tức S “Sứt”) và Dương Đức T (tên gọi khác V) về tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đ ng xét xử: p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo S t 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng đ n 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng t , th i hạn t đư c tính t ngày bị b t tạm gi , tạm giam ngày 28 9 2018. p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo T t 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng đ n 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng t , th i hạn t đư c tính t ngày b t bị cáo đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ lu t hình sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585, 587 Điều 590 và Điều 357 Bộ lu t dân sự năm 2015: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn S và Dương Đức T phải c trách nhiệm liên đới b i thư ng cho ngư i bị hại anh Nguyễn h c Đ số tiền là 35.000.000đ ng g m các khoản tiền sau: Tiền viện phí; tiền công mất thu nh p của anh Đ và của ngư i chăm s c anh Đ trong th i gian 16 ngày anh Đ n m viện điều trị v t thương; tiền thuê xe; tiền b i dư ng, phục h i sức kh e. Xác nh n việc chị Nguyễn Thị TH là v bị cáo S đã nộp khoản tiền b i thư ng cho anh Đ là 3.000.000đ ng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. nh Đ c quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu c u các bị cáo phải b i thư ng chi phí về phục h i sức kh e khi làm n u c phát sinh.

Về v t chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 đoạn tuýp s t dài 0,65m, đư ng kính 2,5cm là hung khí hung khí anh Đ d ng để đuổi đánh các bị cáo. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 thẻ căn cước công dân nhưng c n tạm gi để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự: Đề nghị áp dụng Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quy t số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí T a án: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp lu t.

Các bị cáo; ngư i bị hại và ngư i c quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có ý ki n bổ sung gì khác và không ai c ý ki n tham gia tranh lu n.

Tại phiên t a các bị cáo n i l i sau c ng th a nh n toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo; ngư i bị hại; ngư i c quyền l i nghĩa vụ liên quan; ngư i làm chứng không c ngư i nào c ý ki n khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, ngư i ti n hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Do mâu thuẫn trong việc thanh toán tiền n , khoảng 21 gi ngày 30 4 2018 tại khu vực thôn L, xã NĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh h c Nguyễn Văn S và Dương Đức T đã d ng dao, phớ, g y r t ba kh c b ng kim loại đánh, chém nhiều nhát vào ngư i anh Nguyễn h c Đ. H u quả làm anh Đ bị tổn hại 16% sức kh e.

Xét l i nh n tội của các bị cáo tại phiên toà ph h p với l i khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, ph h p l i khai của ngư i bị hại; ngư i c quyền l i, nghĩa vụ liên quan; ngư i làm chứng; k t lu n giám định về thương tích của Trung tâm háp y tỉnh Vĩnh h c, ph h p các tài liệu chứng cứ khác c trong h sơ vụ án, ph h p với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Như v y, c đủ cơ sở để k t lu n các bị cáo Nguyễn Văn S và Dương Đức T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt đư c quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015.

Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ lu t hình sự năm 2015 quy định:

“2. hạm tội thuộc một trong các trư ng h p sau đây, thì bị phạt t t 2 năm đ n 6 năm:

đ) Gây thương tích ho c gây tổn hại cho sức kh e của ngư i khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể t 11% đ n 30% nhưng thuộc trư ng h p quy định tại các điểm t điểm a… khoản 1 Điều này”

Điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ lu t hình sự quy định “D ng hung khí nguy hiểm”.

Xét tính chất, mức độ h u quả do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây mất tr t tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của các bị cáo xâm phạm trực ti p đ n sức kh e của công dân đư c pháp lu t bảo vệ. Vì v y, c n xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp lu t mới c tác dụng giáo dục riêng và ph ng ng a chung.

Xét nhân thân của các bị cáo c ng như các tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy r ng:

Bị cáo Nguyễn Văn S là đối tư ng khởi xướng, c m đ u, trực ti p chuẩn bị dao, phớ, g y kim loại và rủ Dương Đức T thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu một tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội trong th i gian chưa đư c x a án tích nên bị cáo phải chịu tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t hình sự. Quá trình điều tra c ng như tại phiên t a bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự t ra ăn năn hối cải; m t khác bị cáo tự nguyện kh c phục một ph n h u quả cho ngư i bị hại. Bị cáo đư c hưởng hai tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t hình sự. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã một l n bị k t án nhưng chưa đư c x a án tích nên c n phải xử nghiêm bị cáo và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt t như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới c tác dụng răn đe, ph ng ng a và giáo dục chung.

Bị cáo Dương Đức T sau khi đư c S rủ rê đã tích cực d ng hung khí gây thương tích cho anh Đ nên T ng c vai tr là đ ng phạm trong vụ án. Trước khi phạm tội T ng đã một l n bị k t án tại bản án hình sự số: 02 2014 HSST ngày 10 01 2014 bị T a án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt 03 năm 06 tháng t về tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo đư c đ c xá và chấp hành án xong ngày 31/8/2015. Bị cáo đư c hưởng một tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo c nhân thân xấu nên c n phải xử nghiêm bị cáo và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt t như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới c tác dụng răn đe, ph ng ng a và giáo dục chung.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải c trách nhiệm liên đới b i thư ng cho ngư i bị hại là anh Nguyễn h c Đ số tiền 35.000.000đ ng g m các khoản tiền sau: Tiền viện phí 8.500.000đ ng; Tiền thuê xe taxi 1.000.000đ ng; tiền thu nh p bị mất trong th i gian 16 ngày anh Đ n m viện điều trị là 150.000đ 01 ngày x 16 ngày = 2.400.000đ ng; tiền công ngư i chăm s c 16 ngày là 150.000đ 01 ngày x 16 ngày = 2.400.000đ ng; tiền b i dư ng, phục h i sức kh e là 20.700.000đ ng. Do bị cáo S là ngư i khởi xướng, c m đ u nên buộc bị cáo phải b i thư ng số tiền lớn hơn là 20.000.000đ ng; bị cáo T phải b i thư ng số tiền 15.000.000đ ng là ph h p. Xác nh n chị Nguyễn Thị TH là v của bị cáo S đã nộp thay bị cáo một ph n tiền b i thư ng là 3.000.000đ ng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc, bị cáo S c n phải b i thư ng số tiền 17.000.000đ ng là ph h p. Do y u tố về phục h i sức kh e trong khoảng th i gian một năm, anh Đ phải ti n hành các bước kiểm tra lại v t thương. N u phát sinh về kinh phí, anh Đ và các bị cáo c thể tự th a thu n về việc b i thư ng chi phí phát sinh này. N u không th a thu n đư c ngư i bị hại c thể khởi kiện ra T a b ng một vụ án dân sự yêu c u các bị cáo phải b i thư ng thiệt hại ngoài h p đ ng do sức kh e bị xâm phạm.

Về v t chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 đoạn tuýp s t dài 0,65m, đư ng kính 2,5cm là hung khí anh Đ d ng để đuổi đánh các bị cáo.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 thẻ căn cước công dân nhưng c n tạm gi để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn S và Dương Đức T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ng.

Về án phí dân sự trong vụ án hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 17.000.000đ ng x 5 % = 850.000đ ng; buộc bị cáo Dương Đức T phải chịu 15.000.000đ ng x 5% = 750.000đ.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S “Tức S “Sứt”) và bị cáo Dương Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h của Bộ lu t Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S (Tức S “Sứt”) 02 (Hai) năm 07 (Bảy) tháng t , th i hạn chấp hành hình phạt t tính t ngày bị b t tạm gi , tạm giam ngày 28 tháng 9 năm 2018.

p dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Dương Đức T (tên gọi khác ) 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng t , th i hạn t tính t ngày b t bị cáo đi thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: p dụng khoản 1 Điều 48 Bộ lu t hình sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 587, Điều 590 và Điều 357 Bộ lu t dân sự năm 2015:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn S và Dương Đức T phải c trách nhiệm liên đới b i thư ng cho anh Nguyễn h c Đ số tiền 35.000.000đ ng (Ba mươi lăm triệu đ ng). ỷ ph n của S là 20.000.000đ ng (Hai mươi triệu đ ng), kỷ ph n của T là 15.000.000đ ng (Mư i lăm triệu đ ng). Xác nh n ngày 22 tháng 11 năm 2018 chị Nguyễn Thị TH là v của bị cáo S đã nộp thay cho bị cáo số tiền b i thư ng cho anh Đ là 3.000.000đ ng (Ba triệu đ ng), bị cáo S c n phải b i thư ng cho anh Đ số tiền 17.000.000đ ng (Mư i bảy triệu đ ng).

ể t ngày án c hiệu lực pháp lu t, bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Dương Đức T không tự nguyện thi hành số tiền trên thì hàng tháng c n phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ lu t dân sự năm 2015.

3. Về xử lý v t chứng: p dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 đoạn tuýp s t dài 0,65m, đư ng kính 2,5cm. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 thẻ căn cước công dân nhưng c n tạm gi để đảm bảo thi hành án.

Tất cả các v t chứng nêu trên đều c đ c điểm như biên bản giao nh n v t chứng l p ngày 19/11 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quy t số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí T a án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Dương Đức T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 850.000đ ng (Tám trăm năm mươi nghìn đ ng) và bị báo Dương Đức T phải chịu 750.000đ ng (Bảy trăm năm mươi nghìn đ ng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án các bị cáo; ngư i bị hại; ngư i c quyền l i, nghĩa vụ liên quan c m t c quyền kháng cáo bản án để yêu c u xét xử ph c thẩm.

Trư ng h p bản án, quy t định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cư ng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự. .

Cỡ chữ