- Tranh chấp gì? án dân sự — "Nga-Giàu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều N, buộc ông Lê Văn G và bà Võ Thị T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kiều N số tiền 21.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2018/DS-ST Ngày: 21 - 11 - 2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ngọc Anh.
Bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kho - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2018/TLST-DS, ngày 06 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2018/QĐXXDS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Đường B, khu phố 2, phường 2, thị xã K, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Lê Văn G, sinh năm 1949 và bà Võ Thị T, sinh năm 1952.
Cùng địa chỉ: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.
Bà N có mặt, ông G và bà T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều N và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Kiều N trình bày: Ông Lê Văn G và bà Võ Thị T là vợ chồng hợp pháp. Hiện nay, quan hệ hôn nhân giữa ông G và bà T vẫn còn tồn tại. Vào năm 2016, ông G và bà T có mua thức ăn chăn nuôi của bà N rất nhiều lần. Mục đích ông G và bà T mua thức ăn chăn nuôi của bà N để chăn nuôi nhằm tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình ông G và bà T. Ông G và bà T có mua có trả tiền nhưng còn thiếu lại một số tiền nên đến ngày 05 tháng 11 năm 2016, hai bên chốt nợ thì ông G và bà T còn nợ lại bà N số tiền gốc 21.340.000 đồng. Ông G có ký nhận nợ trong sổ mua bán. Bà N có tiến hành đòi nợ nhiều lần nhưng ông G và bà T vẫn không trả thêm được khoản tiền gốc nào. Khi mua bán, ông G và bà T không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho bà N. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông G và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc là 21.340.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đối với ông G và bà T nhưng ông G và bà T không đến tham dự các phiên hòa giải theo quy định pháp luật. Đồng thời, ông G và bà T cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về việc bà N khởi kiện yêu cầu ông G và bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của bà N. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Kho - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định như việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo các Điều 48, 49, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách những người tham gia tố tụng, việc gửi hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng pháp luật, trong xét xử đảm bảo cho các bên thực hiện quyền tranh luận và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, về nội dung vụ việc: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa thì có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông G và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc là 21.340.000 đồng; buộc ông G và bà T phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 21.340.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng mua bán tài sản, bị đơn là ông G và bà T có địa chỉ tại ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của ông G và bà T tại phiên tòa: Ông G và bà T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông G và bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông G và bà T là phù hợp theo các Điều 177, 179, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của bà N khởi kiện yêu cầu ông G và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền mua thức ăn chăn nuôi gốc 21.340.000 đồng là có chứng cứ chứng minh thể hiện qua sổ mua bán giữa các bên do ông G ký nhận nợ. Ông G và T là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Hiệp, huyện M (nay là thị xã K), tỉnh Long An. Đồng thời, mục đích ông G và bà T mua thức ăn chăn nuôi của bà N để chăn nuôi nhằm tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình ông G và bà T. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và yêu cầu khởi kiện của bà N là buộc ông G và bà T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền gốc 21.340.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với các Điều 288, 430, 440 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông G và bà T phải có nghĩa vụ liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 21.340.000 đồng nộp sung ngân sách nhà nước; bà N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 177, 179, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 288, 430, 440 của Bộ luật dân sự; các Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều N, buộc ông Lê Văn G và bà Võ Thị T phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kiều N số tiền 21.340.000 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
2.1 Án phí của vụ án là 1.067.000 đồng (một triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Buộc ông Lê Văn G và bà Võ Thị T phải có nghĩa vụ liên đới chịu 1.067.000 đồng (một triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
2.2 Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Kiều N 533.500 đồng (năm trăm ba mươi ba nghìn năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0006905 ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt đương sự, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - TAND tỉnh Long An; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Diệu |