- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Đặng Quốc P, Lê Mạnh H phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? [1] Đình chỉ vụ án hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 727/2025/HS-PT Ngày: 08/8/2025 NHÂN DANH |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Đức Hiếu
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Chương
Ông Lê Quang Chiều
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lý Minh Chính - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 08/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 518/2025/TLPT-HS ngày 09/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 574/2025/QĐXXPT-HS ngày 16/7/2025 đối với các bị cáo Đặng Quốc P và Lê Mạnh H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2025/HSST ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Đặng Quốc P, sinh năm 1965; Đăng ký thường trú: Xóm A, thôn Ư, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: LK40-N07A, khu đất dịch vụ V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đặng Đình O và con bà Nguyễn Thị H1; Vợ là Đỗ Thị H2 và có 03 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
2. Lê Mạnh H, sinh năm 1961; Đăng ký thường trú: Số H, ngõ A Phố L, tổ dân phố C, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Xuân H3 và con bà Lê Thị N; Vợ là Nguyễn Thị O1 và có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm có xem xét:
3. Đặng Quốc H4, sinh năm 2003; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Đ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: LK40-N07A, khu đất dịch vụ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đặng Quốc P và con bà Đỗ Thị H2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
4. Lê Mạnh D, sinh năm 1994, Đăng ký thường trú: Số H, ngõ A Phố L, tổ dân phố C, phường V quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: LK01-N07A, khu đất dịch vụ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Mạnh H và Nguyễn Thị O1; Vợ là Trần Thị T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
- Bị hại:
1. Đặng Quốc P, sinh năm 1965; Đăng ký thường trú: Xóm A, thôn Ư, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: LK40-N07A, khu đất dịch vụ V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Có mặt.
2. Lê Mạnh D, sinh năm 1994, Đăng ký thường trú: Số H, ngõ A Phố L, tổ dân phố C, phường V quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: LK01-N07A, khu đất dịch vụ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn từ trước về chỗ để xe giữa nhà Lê Mạnh H (sinh năm 1961, nơi cư trú: N07A, LK01 khu đất dịch vụ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội) và Đặng Quốc P (sinh năm 1965, nơi cư trú: N07A, LK40 khu đất dịch vụ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội) nên vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 05/8/2024, tại khu đất dịch vụ phường V, quận H, Thành phố Hà Nội, H và P đã xảy ra xô xát, P dùng tay đấm vào người Hùng. Thấy vậy, Lê Mạnh D (sinh năm 1994, nơi cư trú: tổ dân phố C, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội- là con đẻ của Lê Mạnh H) dùng tay đánh vào người P, xô đẩy và ôm P, H lấy 01 chiếc ghế nhựa màu xanh, dạng 4 chân, kích thước cao 25cm, rộng 27cm của nhà P ở gần đó đánh vào đầu P làm P bị chảy máu. Sau khi bị đánh P chạy về cửa nhà lấy 01 (một) tuýp sắt kích thước dài 1,2 m, đường kính 03cm (loại dùng làm chân ô che nắng) ra để đánh lại nhưng chưa đánh được thì bị D ôm và giằng co tuýp sắt. Thấy vậy, H về nhà lấy 01 (một) tuýp sắt kích thước dài 1 m, đường kính 03cm (loại dùng làm chân ô che nắng) chọc vào người P. Sau khi được mọi người xung quanh can ngăn nên sự việc dừng lại.
Đến khoảng 07 giờ 50 phút cùng ngày, bà Đỗ Thị H2 (sinh năm 1974, nơi cư trú: LK40-N07A khu đất dịch vụ V, H, Hà Nội - là vợ của Đặng Quốc P) và con là Đặng Quốc H4 (sinh năm 2003, nơi cư trú: N07A, LK40 khu đất dịch vụ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội) về nhà thấy P bị chảy máu đầu nên cùng đi sang trước cửa nhà H (lúc này H đi vắng) để nói chuyện. Tại đây, bà H2 và H4 xảy ra cãi chửi nhau với bà Nguyễn Thị O1 (sinh năm 1965, nơi cư trú: tổ dân phố C, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội - là vợ của H) và Lê Mạnh D. Lúc này, P, H4 dùng tay đấm vào vùng đầu, mặt, người của D; P nhặt 01(một) viên gạch kích thước dài 20cm, rộng 9cm, cao 5cm ở gần đó ném trúng vào phần ngực bên phải của D, rồi tiếp tục dùng 01 (một) chiếc bàn nhựa, kích thước cao 50 cm, dài 62 cm của nhà H gần đó đánh vào vùng dầu của D, H4 dùng chân đạp vào người D làm Duy ngã ra đường. Sau khi được mọi người xung quanh can ngăn thì P và H4 bỏ về nhà, sự việc kết thúc. D được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ.
Ngày 20/8/2024, vợ Lê Mạnh D là chị Trần Thị T có đơn trình báo sự việc D bị Đặng Quốc P, Đặng Quốc H4 đánh gây thương tích.
Ngày 25/12/2024, Đặng Quốc P đề nghị khởi tố đối với những người gây thương tích cho mình.
Ngày 22/12/2024, Lê Mạnh D có đơn đề nghị khởi tố vụ án, xử lý hình sự đối với Đặng Quốc P, Đặng Quốc H4.
* Hậu quả:
- Đặng Quốc P bị 01 (một) vết thương vùng đỉnh kích thước khoảng (6x2)cm, chảy máu, xây xát gò má, cẳng tay hai bên, được khám và điều trị tại bệnh viện Đ từ ngày 05/8/2024 đến ngày 12/8/2024.
- Lê Mạnh D bị 01 (một) vết thương hở chảy máu ở vùng mắt trái kích thước (3x0,5) cm; 01 (một) vết bầm tím kích thước (5x7) cm và 01 (một) vết hương hở chảy máu tại vùng mũi kích thước khoảng (1x0,5) cm, được khám và điều trị tại bệnh viện Đ từ ngày 05/8/2024 đến ngày 09/8/2024.
- Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4 không bị thương tích gì, H4 trình báo bị Trần Thị T (vợ D) làm vỡ 01 chiếc kính cận trị giá 2.100.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Đặng Quốc P: 01 (một) tuýp sắt kích thước dài 1,2 m, đường kính 03cm; 01 (một) chiếc bàn nhựa, kích thước cao 50 cm, dài 62 cm đã bị vỡ; 01 (một) viên gạch kích thước dài 20cm, rộng 9cm, cao 5cm.
- Thu giữ của Lê Mạnh H: 01 (một) tuýp sắt kích thước dài 1 m, đường kính 03cm; 01 (một) chiếc ghế nhựa màu xanh, kích thước cao 25cm, rộng 27cm đã bị vỡ.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra các quyết định trưng cầu giám định, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành vết thương số 6206, 6207, 6208, 6209 đối với Lê Mạnh H, Lê Mạnh D, Đặng Quốc P và Đặng Quốc H4; Đặng Quốc H4 từ chối việc giám định với lý do bản thân không bị thương tích gì.
* Bản kết luận giám định thương tích số 7647 ngày 30/10/2024 của V - Bộ C, kết luận đối với Lê Mạnh H: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Mạnh H là 0%.
* Bản kết luận giám định thương tích số 7646 ngày 14/11/2024 của V - Bộ C, kết luận đối với đối với Lê Mạnh D:
+ Sẹo vùng mi mắt trái, kích thước nhỏ, không co kéo hở mi: 03%.
+ Sẹo vùng sống mũi kích thước nhỏ: 03%.
+ Sẹo vùng ngực bên phải kích thước nhỏ: 01%
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Mạnh D là 07%.
+ Cơ chế hình thành thương tích của Lê Mạnh D: Các tổn thương vùng mi mắt trái và sống mũi do vật có diện tiếp xúc hẹp gây ra; Tổn thương vùng ngực bên phải do vật tày gây ra; Phần rìa vỡ của các mảnh vỡ của chiếc bàn nhựa xanh đã vỡ gửi giám định gây được các tổn thương vùng mi mắt trái và sống mũi của Lê Mạnh D; Viên gạch gửi giám định gây được tổn thương tại vùng ngực bên phải Lê Mạnh D.
* Bản kết luận giám định thương tích số số 7738 ngày 14/11/2024 của V - Bộ C, kết luận đối với đối với Đặng Quốc P:
+ Sẹo vùng đỉnh phải kích thước trung bình: 02%.
+ Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương vùng đỉnh phải của Đặng Quốc P do vật tày gây ra; Chiếc ghế nhựa gửi giám định gây được thương tích vùng đỉnh phải của Đặng Quốc P; Đoạn tuýp sắt gửi giám định không gây được thương tích vùng đỉnh phải của ông Đặng Quốc P.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 131/2025/HSST ngày 24/4/2025 Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội: Tuyên bố các bị cáo Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 (Đối với bị cáo Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D) Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Quốc P 10 (Mười) tháng tù; Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 09 (Chín) tháng tù; Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H4 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xử phạt bị cáo Lê Mạnh D 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngày 25/4/2025 bị cáo Đặng Quốc P có đơn kháng cáo và ngày 05/5/2025 bị cáo Lê Mạnh H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo có đơn kháng cáo là hợp lệ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đặng Quốc P 10 (Mười) tháng tù và xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đặng Quốc P và bị cáo Lê Mạnh H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Đặng Quốc P đã rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo: Lê Mạnh H và bị cáo Lê Mạnh D; Bị hại Lê Mạnh D đã rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo: Đặng Quốc P và Đặng Quốc H4. Việc rút đơn của các bị hại là hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 155; Khoản 8 Điều 157; Điều 355 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng Hình sự huỷ án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
- Các bị cáo: Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Bị hại Đặng Quốc P đồng thời là bị cáo trong vụ án tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo: Lê Mạnh H và Lê Mạnh D;
- Bị hại Lê Mạnh D đồng thời là bị cáo trong vụ án tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo: Đặng Quốc P và Đặng Quốc H4.
- Các bị hại Đặng Quốc P và Lê Mạnh D tự nguyện rút yêu cầu bồi thường dân sự. Các bị hại khẳng định việc rút yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và đã được giải thích về việc sau khi rút đơn yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo Đặng Quốc P và Lê Mạnh H có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
[2] Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa các bị cáo và bị hại đều công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Do có mâu thuẫn chỗ để xe, khoảng 07 giờ, tại LK40-N07A khu đất dịch vụ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, bị cáo Lê Mạnh H đã có hành vi sử dụng 01 (một) chiếc ghế nhựa màu xanh, dạng 4 chân, kích thước cao 25cm, rộng 27cm (Là hung khí nguy hiểm) đánh vào đầu Đặng Quốc P gây thương tích vùng đỉnh phải tỷ lệ tổn thương cơ thể 02% và dùng 01 (một) tuýp sắt kích thước dài 1 m, đường kính 3 cm (L dùng làm chân ô che nắng - Là hung khí nguy hiểm) chọc vào người người Đặng Quốc P. Bị cáo Lê Mạnh D có hành vi dùng tay đánh, xô đẩy, ôm Đặng Quốc P. Các bị cáo: Lê Mạnh H và Lê Mạnh D đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” cho Đặng Quốc P với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đến 07 giờ 50 phút, ngày 05/08/2024, tại trước cửa nhà bị cáo Lê Mạnh H: Bị cáo Đặng Quốc P có hành vi dùng tay đấm vào vùng đầu, vùng mặt của Lê Mạnh D, dùng 01 (một) viên gạch kích thước dài 20 cm, rộng 9 cm, cao 5 cm (Là hung khí nguy hiểm) ném vào vùng ngực bên phải của Lê Mạnh D và dùng 01 (một) chiếc bàn nhựa kích thước cao 50 cm, dài 62 cm (Là hung khí nguy hiểm) đánh vào vùng đầu của Lê Mạnh D gây tỷ lệ tổn thương cơ thể 07%. Bị cáo Đặng Quốc H4 dùng tay, chân đánh vào vùng đầu, vùng mặt và đạp vào người Lê Mạnh D. Các bị cáo: Đặng Quốc P và Đặng Quốc H4 đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” cho Lê Mạnh D với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2025/HSST ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã tuyên bố các bị cáo Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về hình phạt: Bản án hình sự sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò đồng phạm của các bị cáo:
Xử phạt bị cáo Đặng Quốc P 10 (Mười) tháng tù; Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 09 (Chín) tháng tù; Xử phạt bị cáo Đặng Quốc H4 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xử phạt bị cáo Lê Mạnh D 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hình phạt áp dụng là phù hợp, có căn cứ pháp luật.
[3] Xét đề nghị rút yêu cầu khởi tố của bị hại Đặng Quốc P và bị hại Lê Mạnh D:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Đặng Quốc P đồng thời là bị cáo trong vụ án tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo: Lê Mạnh H và Lê Mạnh D; Bị hại Lê Mạnh D đồng thời là bị cáo trong vụ án tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo: Đặng Quốc P và Đặng Quốc H4.
Sau khi được Hội đồng xét xử giải thích hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố thì bị hại không có quyền yêu cầu lại và các bị hại Đặng Quốc P, Lê Mạnh D khẳng định việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng bức.
Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị hại nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 155; Khoản 8 Điều 157; Điều 299; Điều 355 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định hủy bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án xét xử đối với các bị cáo: Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D.
Lý do đình chỉ là vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại và bị hại đã rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo chứ không phải do các bị cáo không phạm tội nên các bị cáo: Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D không có quyền yêu cầu bồi thường do việc truy tố, xét xử sơ thẩm.
[4] Về bồi thường dân sự:
Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2025/HSST ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Đặng Quốc P, Đặng Quốc H4 bồi thường cho anh Lê Mạnh D: 8.236.499 đồng. Cụ thể: mỗi bị cáo bồi thường 4.118.250 đồng.
- Buộc bị cáo Lê Mạnh H, Lê Mạnh D bồi thường cho Đặng Quốc P: 3.305.902 đồng. Cụ thể: mỗi bị cáo bồi thường 1.652.951 đồng.
- Không xem xét giải quyết yêu cầu của Đặng Quốc H4 về việc buộc chị Trần Thị T bồi thường số tiền 2.100.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại Đặng Quốc P và Lê Mạnh D tự nguyện rút yêu cầu bồi thường dân sự. Do đó, các bị cáo không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/5/2025 bị cáo Đặng Quốc P đã nộp tiền bồi thường dân sự cho bị hại Lê Mạnh D số tiền 4.118.250 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hà Đông (Biên lai thu tiền số 0039653, ngày 21/5/2025). Do bị hại Lê Mạnh D không yêu cầu bồi thường dân sự, nên bị cáo Đặng Quốc P được nhận lại số tiền 4.118.250 đồng đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy các đồ vật đã thu giữ là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng:
01 (một) tuýp sắt bằng kim loại dài 1,2 m, đường kính 3 cm; 01 (một) chiếc bàn nhựa màu xanh, kích thước dài 62 cm, cao 50 cm, rộng 40 cm (bị vỡ nhiều mảnh); 01 (một) tuýp sắt bằng kim loại dài 1 m, đường kính 3 cm; 01 (một) viên gạch kích thước dài 20 cm, rộng 9 cm, cao 5 cm; 01 (một) chiếc ghế nhựa màu xanh, kích thước cao 25 cm, rộng 27 cm (bị vỡ nhiều mảnh).
[6] Về án phí và hiệu lực thi hành bản án:
Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án hình sự sơ thẩm và đình chỉ vụ án nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Đình chỉ vụ án hình sự:
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 155; Khoản 8 Điều 157; Điều 299; Điều 355 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận đề nghị rút yêu cầu khởi tố của bị hại Đặng Quốc P đối với các bị cáo: Lê Mạnh H và Lê Mạnh D; Chấp nhận đề nghị rút yêu cầu khởi tố của bị hại Lê Mạnh D đối với các bị cáo: Đặng Quốc P và Đặng Quốc H4.
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2025/HSST ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và đình chỉ vụ án.
[2] Về bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 3, Điều 372, Điều 375 Bộ luật Dân sự
Các bị cáo Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đặng Quốc P được nhận lại số tiền 4.118.250 đồng đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên lai thu tiền số 0039653, ngày 21/5/2025.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) tuýp sắt bằng kim loại dài 1,2 m, đường kính 3 cm; 01 (một) chiếc bàn nhựa màu xanh, kích thước dài 62 cm, cao 50 cm, rộng 40 cm (bị vỡ nhiều mảnh); 01 (một) tuýp sắt bằng kim loại dài 1 m, đường kính 3 cm; 01 (một) viên gạch kích thước dài 20 cm, rộng 9 cm, cao 5 cm; 01 (một) chiếc ghế nhựa màu xanh, kích thước cao 25 cm, rộng 27 cm (bị vỡ nhiều mảnh).
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm f khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đặng Quốc P, Lê Mạnh H, Đặng Quốc H4, Lê Mạnh D không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 08/8/2025.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - CQCSĐT Công an thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 6 - Hà Nội; - TAND Khu vực 6 - Hà Nội; - THADS Khu vực 6 - Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Hiếu |