vanban.org

Bản án 726/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn A với bà Trần Thị Hoàn X. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN VAN A - TRAN THI HOAN X"
  • Tòa quyết gì? Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 726/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 12/10/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hải Quỳnh Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị X Đào;

2. Ông Đặng Bích Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận S Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận S Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Đinh Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận S Thành phố Hồ Chí Minh – số 99 đường Trần Văn K , Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh - xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 506/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 420/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn A, sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Thường trú: số 72/5/83 khu phố 5, phường AL B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: bà Trần Thị Hoàn X, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Thường trú: số 255/19 đường HG, Phường H, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn xin ly hôn ngày 24 tháng 7 năm 2018 và bản tự khai đề ngày 21 tháng 9 năm 2018 của ông Nguyễn Văn A, bản tự khai ghi ngày 20 tháng 9 năm 2018 của bà Trần Thị Hoàn X thì các đương sự trình bày: ông A và bà X sống chung như vợ chồng từ năm 2014, đến ngày 06/7/2016 thì được Ủy ban nhân dân Phường N Quận S Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 46. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khi con chung được khoảng 01 tuổi thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách. Từ tháng 4/2018 cho đến nay, ông A và bà X đã sống ly thân. Nay, ông A và bà X nhận thấy không còn yêu thương nhau nữa, quan hệ hôn nhân không thể duy trì. Do đó, ông An nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận S giải quyết cho ông A được ly hôn với bà X và bà X cũng đồng ý ly hôn với ông A.

- Về con chung: ông An và bà X có 01 con chung tên Nguyễn An K – sinh ngày 19/10/2016. Ông A giao con chung cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận. Bà X đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận

- Về tài sản chung: ông A và bà X tự khai không có. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 20 tháng 9 năm 2018 bà X nộp đơn xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa; ngày 21 tháng 9 năm 2018, ông A nộp đơn xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vắng mặt. Viện kiểm sát nhân dân Quận S phát biểu: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn A được ly hôn với bà Trần Thị Hoàn X, chấp nhận giao trẻ Nguyễn An K – sinh ngày 19/10/2016 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận; về tài sản chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

- Ông Nguyễn Văn A có đơn xin ly hôn với bà Trần Thị Hoàn X. Tại thời điểm ông An nộp đơn xin ly hôn thì bà X cư trú tại Quận S, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, ông A và bà X nộp đơn xin vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự. [2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị Hoàn X được Ủy ban nhân dân Phường N Quận S Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 46, ngày 06/7/2016. Do đó quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà X là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tại các bản tự khai của ông A và bà X, cả hai đều thống nhất đồng ý ly hôn. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn bà X của ông A.

Về con chung: ông A và bà X xác định có 01 con chung tên Nguyễn An K – sinh ngày 19/10/2016. Ông A và bà X thống nhất giao cho bà X được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận việc giao con chung cho bà X được trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận

Về tài sản chung: ông A và bà X tự khai không có.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do ông An nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn A với bà Trần Thị Hoàn X.

2. Về con chung: giao cho bà Trần Thị Hoàn X được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn An K – sinh ngày 19/10/2016; cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trường hợp thay đổi về nơi sinh sống, học tập của con chung, hai bên đương sự phải có nghĩa vụ thông báo cho nhau biết.

3. Về tài sản chung: ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị Hoàn X tự khai không có.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) do ông Nguyễn Văn A nộp, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà ông đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010079 ngày 31/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận S. Ông Nguyễn Văn A đã nộp đủ án phí. 5. Giấy chứng nhận kết hôn số 46, ngày 06/7/2016 do Ủy ban nhân dân Phường N, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án này có hiệu lực 6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật. 7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ