vanban.org

Bản án 724/2021/DS-PT — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/12/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 19/01/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C.

Ch p nhận kháng cáo của bà Huỳnh Ngọc T. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "HUỲNH NGỌC THUẬN - NGUYỄN THANH BÌNH"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 19/01/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 724/2021/DS-PT
Ngày: 23-12-2021
V/v Tranh ch p lối đi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thủy

Các Thẩm phán:

1/ Ông Uông Văn Tu n

2/ Bà Võ Thị Kim Thương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: - Bà Hoàng Anh Nga - Kiểm Sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố H đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2021/DS-PT ngày 08 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp lối đi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4471/2021/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số 3/19, tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ 1, p LC, xã TPT, huyện C, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

- Bà Đoàn Thị Thiên Thanh T, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ M, khu phố B, thị tr n CC, huyện C, Thành phố H.

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 8, p BĐ2, xã TPT, huyện C, Thành phố H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1/ Bà Huỳnh Ngọc X, sinh năm 1972. 3.2/ Bà Huỳnh Thị Hồng N1, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: Tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp của bà X, bà N1: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1965 (có mặt). Địa chỉ: Số 3/19, tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. Những người tham gia tố tụng khác 4. Người làm chứng: 4.1/ Ông Huỳnh T n T, sinh năm 1961 (có mặt). Địa chỉ: Số 198/10 HL 2, tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.2/ Bà Trần Thị U, sinh năm 1944 (vắng mặt). Địa chỉ: Số 3/20, tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.3/ Bà Lê Thị N, sinh năm 1944 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.4/ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1942 (vắng mặt). Địa chỉ: Số 25/3, tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.5/ Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1937 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.6/ Ông Nguyễn T t H, sinh năm 1970 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.7/ Ông Trần Văn N, sinh năm 1960 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.8/ Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1950 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ MB, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. 4.9/ Ông Bùi Văn B, sinh năm 1956 (có mặt). Địa chỉ: Số 19 Đường số SM, tổ M, p XĐ, xã TPT, huyện C, Thành phố H. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn T – là luật sư Công ty Luật TNHH MTV ĐAT – Đoàn luật sự Thành phố H. Địa chỉ: số 154 TL8, Khu phố 2, thị tr n C, Thành phố H. Người kháng cáo: Bà Huỳnh Ngọc T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T trình bày:

Bà là chủ sử dụng phần đ t có diện tích 144,7m2 thuộc thửa 1087, tờ bản đồ số 16, Bộ địa chính xã TPT, huyện C, phần đ t này bà đã được Ủy ban nhân dân huyện C c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số HO 1097/12 ngày 19/9/2007.

Ông Nguyễn Thanh B là chủ sử dụng thửa đ t tiếp giáp với phần đ t của bà, phần đ t của ông B thuộc thửa 1304-1, 1356-1, tờ bản đồ số 4, 19, Bộ địa chính xã TPT, huyện C. Giữa 02 phần đ t trên có con đường đi công cộng chiều ngang khoảng 4m, chiều dài hơn 100m, sau khi đo đạc thực tế là 443,9m2 theo bản vẽ sơ đồ nhà đ t do Công ty TNHH MTV Thiết kế Xây dựng Đo đạc bản đồ HT lập ngày 19/6/2020, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ t đai huyện C duyệt ngày 30/6/2020.

Năm 2007, ông B tự ý xây tường rào chắn ngang con đường đi tiếp giáp phần đ t của 02 bên làm cho bà không thể đi ra đường chính, việc làm ăn sinh sống của bà và gia đình r t khó khăn, do đây là con đường duy nh t, tồn tại từ trước năm 1975 đến nay, được bà con xung quanh khẳng định là đường đi công cộng. Do đó, bà yêu cầu ông B tháo dỡ hàng rào, trả lại con đường đi công cộng để bà được đi vào sử dụng canh tác phần đ t của mình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Thanh B có bà Đoàn Thị Thiên Thanh T và bà Nguyễn Thị N đại diện trình bày:

Nguồn gốc đ t tranh ch p là của ba ông Nguyễn Thanh B, ba ông B nhận chuyển nhượng 10.000 m2 đ t thuộc thửa 1304-1, 1356-1, tờ bản đồ số 4, 19, Bộ địa chính xã TPT, huyện C từ ông Lê Quang V vào năm 2001, năm 2013 ba của ông B tặng cho ông B, trong t t cả các lần chuyển nhượng và c p lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mới đều không thể hiện con đường đi công cộng tiếp giáp đ t với bà T. Do đó, bị đơn không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Hồng N, Huỳnh Ngọc X có bà Huỳnh Ngọc T đại diện trình bày:

Thống nh t với ý kiến của nguyên đơn, đề nghị ông B tháo dỡ bức tường trả lại con đường đi công cộng.

Những người làm chứng gồm các ông/bà: Huỳnh T n T, Trần Thị U, Lê Thị N, Nguyễn Văn C, Huỳnh Văn Đ, Nguyễn T t H, Trần Văn N, Huỳnh Văn Đ trình bày:

Các ông bà là người dân sống tại địa phương, biết rõ trước đây có con đường đi công cộng giữa 02 phần đ t tiếp giáp của ông B và bà T, đề nghị Tòa án xem xét ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hiện nay, các ông bà không có đi trên con đường này vì đều có đường đi khác, chỉ còn bà T, bà N và bà X phải đi trên con đường này thì mới vào được đ t của họ.

Người làm chứng ông Bùi Văn B trình bày:

Ông là người sinh ra, lớn lên tại địa phương và làm trưởng p XĐ từ năm 2005 đến năm 2015 nên biết r t rõ về nguồn gốc con đường mà 02 bên đang tranh ch p, ông khẳng định không có con đường đi công cộng như các bên trình bày, mà chỉ là đường mòn tự chừa của chủ đ t cũ, sau đó chuyển nhượng lại cho ba ông B, ba ông B tặng cho ông B. Khi còn là trưởng p, chính ông đã vận động chủ cũ cho các hộ dân liền kề đi nhờ để đổ đ t san l p cho những phần đ t của họ, sau khi san l p xong thì bang đ t trả lại hiện trạng cho chủ cũ, chứ không phải là đường đi công cộng. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2020/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên xử: 1. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh B tháo dỡ bức tường trả lại đường đi công cộng có diện tích 443,9m2 theo bản vẽ sơ đồ nhà đ t do Công ty TNHH MTV Thiết kế Xây dựng Đo đạc bản đồ HT lập ngày 19/6/2020, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ t đai huyện C duyệt ngày 30/6/2020. Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định. Ngày 19/01/2021 nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T có đơn kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà. Ngày 19/01/20121 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã ra Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DSST ngày 06/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện C với lý do; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc trường hợp án phí không có giá ngạch. Th y, Tòa c p sơ thẩm buộc bà T phải chịu án phí dân sự theo mức án phí có giá ngạch là không đúng. Do đó kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Huỳnh Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo: Luật sư bảo vệ của nguyên đơn cho rằng bà T khởi kiện tranh ch p lối đi chung, yêu cầu phá dỡ công trình xây dựng trái phép trên lối đi và ch m dứt hành vi trái pháp luật nhưng c p sơ thẩm lại xác định tranh ch p quyền sử dụng đ t là không đúng Căn cứ vào các gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mà Ủy ban nhân dân huyện C c p cho bà T và một số hộ dân có đ t liền kề với bà T đều thể hiện có con đường đ t. Căn cứ Bản vẽ do Công ty TNHH MTV Thiết kế Xây dựng Đo đạc bản đồ HT lập thể hiện phần diện tích đ t tranh ch p là 443,9m2 theo Tài liệu 02/CT-UB thuộc một phần thửa 486 tờ Bản đồ số 19, theo tài liệu 2003 thuộc một phần thửa 398 diện tích là 25,3m2 một phần thửa 399 diện tích là 10,3m2 và đường đ t diện tích là 408,3m2 , nhưng Tòa c p sơ thẩm chưa làm rõ thửa đ t 398, 399 chủ sử dụng đ t là ai Theo Bản vẽ ngày 22/3/2017 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Thành phố H lập thể hiện phần đ t bà sử dụng thuộc thửa 1087, tờ bản đồ số 16 theo tài liệu 299/TTg và tài liệu năm 2004 thì hướng Bắc của thửa đ t có thể hiện đường đ t bắt đầu từ giao lộ với đường hẻm số 3 của đường 86 cho đến giao lộ của đường Tỉnh lộ 2 nhưng Tòa không xem xét bản vẽ này làm căn cứ giải quyết vụ án

Các Văn bản của của Ủy ban nhân dân huyện C và Ủy ban nhân dân xã TPT về việc phúc đáp các công văn xác minh của Tòa án chưa rõ ràng nhưng Tòa án không tiến hành thu thập xác minh làm rõ chính từ những vi phạm tố tụng trong quá trình thu thập chứng cứ dẫn đến việc đánh giá chứng cứ không toàn diện, không đảm bảo được quyền lợi của bà T khi quyết định không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 06/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án c p phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã ch p hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Tòa c p sơ thẩm đã xác định quan hệ tranh ch p quyền sử dụng đ t trong khi nguyên đơn khởi kiện tranh ch p lối đi chung. Từ việc xác định sai quan hệ tranh ch p dẫn đến việc áp dụng pháp luật và tính án phí có giá ngạch trong vụ án này là không đúng. Tòa c p sơ thẩm đã có những vi phạm nghiêm trọng trong quá trình thu thập chứng cứ dẫn đến việc đánh giá chứng cứ không toàn diện, triệt để nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm giao hồ sơ để Tòa án nhân dân huyện C giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T còn trong hạn luật định, nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đơn kháng cáo là hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về kháng nghị của Viện Kiểm sát cũng trong hạn luật định. Tuy nhiên ngày 31/3/2021 Viện Kiểm sát nhân dân huyện C đã ra Quyết định số 34/QĐ-VKS-DS rút toàn bộ quyết định kháng nghị phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ đối với Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 19/01/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C.

Về xác định quan hệ pháp luật. Căn cứ vào Đơn khởi kiện thì nguyên đơn bà T yêu cầu ông B trả lại lối đi công cộng và tháo dỡ tường rào xây dựng trên phần đ t là lối đi chung. Nhưng Tòa án c p sơ thẩm xác định là tranh ch p quyền sử dụng đ t là không chính xác như luật sư bảo vệ cho nguyên đơn và đại diện viện kiểm sát đã phân tích nêu trên là có căn cứ. [1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Những người làm chứng: bà Trần Thị U, bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C, ông Huỳnh Văn Đ, ông Nguyễn T t H, ông Trần Văn N, ông Huỳnh Văn Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên. [2] Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T đề nghị Tòa c p phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông B phải tháo dỡ tường rào và giao trả lại lối đi công cộng. Th y, Căn cứ vào Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 7016 QSDĐ/CQ ngày 13/11/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C c p với diện tích là 10.000m2 thửa số 1304-1, 1356-1, tờ bản đồ số 4, 19 (Tài liệu bản đồ 02/CT/UB) thể hiện khu đ t của ông OS (sau này đã tặng cho ông Nguyễn Thanh B được cập nhật biến động tại trang 4 số vào sổ CH06311, ngày 26/12/2013) có ranh đ t tiếp giáp với đ t của bà Huỳnh Ngọc T (không thể hiện đường đ t). Căn cứ Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số vào sổ c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t HO1097/12do Ủy ban nhân dân huyện C c p cho bà Huỳnh Ngọc T ngày 19/9/2007 thể hiện phần diện tích đ t 144,7m2, thuộc thửa 1087, tờ bản đồ số 16 thể hiện có đường đ t phía trước. Xét, trong hồ sơ thể hiện Tòa c p sơ thẩm có văn bản xác minh số 687/TA-DS ngày 29/9/2017 nhưng chỉ yêu cầu Ủy ban nhân dân xã TPT cung c p các thông tin về việc có con đường đ t thông ra Hương lộ 2 hay không? Tòa c p sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân huyện C vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ tại sao trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông B không thể hiện có con đường đ t, nhưng trong gi y chứng nhận của bà T lại thể hiện có con đường đ t. Như vậy, Gi y chứng nhận nào được Ủy ban nhân dân huyện C c p đúng, gi y chứng nhận nào c p không đúng và thực tế có con đường đ t hay không, trường hợp nếu có tồn tại con đường thì con đường đ t đó được hình thành trên phần diện tích đ t công hay do người dân tự mở đi nhờ trên phần diện tích đ t của chủ sử dụng khác và có được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là đường công cộng thể hiện trên bản đồ địa chính hay không? Theo nội dung đơn khởi kiện (bút lục số 74) bà T kiện tranh ch p con đường đi ngang khoảng 3m x 80m chiều dài với chủ thửa đ t là ông Nguyễn Thanh B, yêu cầu ông B trả lại con đường đi khoảng 240m2 đ t. Trong quá trình giải quyết bà T có nộp Bản vẽ sơ đồ nhà đ t bổ túc hồ sơ xin giải quyết tranh ch p (Bút lục số 290) thể hiện phần diện tích đ t tranh ch p là 443,9m2 đ t. Nhưng Tòa c p sơ thẩm chưa thu thập làm rõ phần diện tích đ t tranh ch p nêu trên, việc này được thể hiện trong Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi Trường Thành phố H lập ngày 23/3/2017 chỉ thể hiện vị trí diện tích thuộc quyền sử dụng của bà T mà không thể hiện phần diện tích đ t tranh ch p theo bà T là lối đi chung. Phần đ t tranh ch p chưa được áp ranh tài liệu bản đồ 299/TTg. Chưa làm rõ phần diện tích đ t tranh ch p tọa lạc tại các thửa đ t nào, do ai trực tiếp quản lý sử dụng. Th y, Tòa c p sơ thẩm chỉ căn cứ vào Bản vẽ sơ đồ nhà đ t do Công ty TNHH MTV Thiết kế Xây dựng Đo đạc bản đồ HT lập ngày 19/6/2020, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ t đai huyện C duyệt ngày 30/6/2020 do bà T cung c p để từ đó cho rằng phần đ t mà bà T tranh ch p thuộc một phần đ t trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã được c p cho ông Nguyễn Thanh B nên không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là chưa chính xác. Như đã phân tích nêu trên cho th y Tòa c p sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng, trong quá trình thu thập chứng cứ không đầy đủ dẫn đến việc đánh giá chứng cứ không toàn diện, khách quan. Th y những vi phạm này c p Phúc thẩm không thể khắc phục được. Trong quá trình giải quyết Tòa c p phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ. Th y, hiện tại phần diện tích đ t của bà T bị vây bọc bởi các b t động sản liền kề, nếu trong trường hợp phần đ t đang tranh ch p không phải là lối đi chung thì khi giải quyết Tòa c p sơ thẩm cần phải xem xét giải quyết triệt để vụ án về mở lối đi cho bà T theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, ch p nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân đân Thành phố H. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 148, Điều 296, Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Đình chỉ Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 19/01/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C.

2. Ch p nhận kháng cáo của bà Huỳnh Ngọc T.

3. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố H giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Ngọc T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại bà T số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0085554 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C lập ngày 19/01/2021. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ