vanban.org

Bản án 721/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/06/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ôn ThịThúy Gi - Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H),"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 721/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2019!

V/v Ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

-!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Quách Thanh Bình

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Lê Thị Nhanh

2. Bà Nguyễn Thị Nở

-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia" phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 370/2018/TLST - HN ngày 30/7/2018 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1987/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3702/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2019, giữa các đương sự:

"

Nguyên"đơn: Bà Ôn Thị Thúy Gi, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: 357/66A Hậu Gi, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

""

Bị"đơn: Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H), sinh năm 1978 (vắng mặt)

Quốc tịch: Việt Nam

Địa chỉ: USA.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Tại"đơn"khởi"kiện"ngày"28/6/2018"và"bản"tự"khai,"nguyên"đơn"–"bà"Ôn"Thị" Thúy"Gi"trình"bày:""

Về quan hệ hôn nhân: Bà và Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) kết hôn vào năm 2006 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 2284, quyển số 8, ngày 17/7/2006 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn, ông H cùng gia đình sang Mỹ định cư, sinh sống và làm việc, thỉnh thoảng về Việt Nam chung sống với bà, cuộc sống vẫn bình thường. Một thời gian sau thì hai bên ít liên lạc với nhau, đến cuối năm 2014 thì bà không liên lạc được với ông H nữa và ông H cũng không về Việt Nam thăm bà và con. Nay tình cảm không còn, do xa cách địa lý, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) Về việc nuôi con: Bà và ông H có 01 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Băng Tâm, sinh ngày 19/10/2007. Hiện nay bà đang nuôi dưỡng nên bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con. Bà tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản: Không có. Về nợ: Không có. Tại bản tự khai ngày 10/8/2018, trẻ Nguyễn Ngọc Băng T trình bày có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Ôn Thị Thúy Gi có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Đồng thời ông H cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Gi. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Bà Gi có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ôn Thị Thúy Gi: + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ôn Thị Thúy Gi đối với Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H). + Về việc nuôi con: Giao cho bà Gi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Nguyễn Ngọc Băng Tâm, sinh ngày 19/10/2007. Ghi nhận việc bà Gi không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. + Về chia tài sản và nợ chung: Không có. + Về án phí: Bà Ôn Thị Thúy Gi phải chịu án phí 300.000 đồng theo luật định.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:! Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Ngày 28/6/2018, bà Ôn Thị Thúy Gi khởi kiện yêu cầu ly hôn với Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H). Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Ôn Thị Thúy Gi có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H), đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ôn Thị Thúy Gi và Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 2284, quyển số 8 ngày 17/7/2006 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Gi cho rằng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do khoảng cách địa lý, vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng cho nhau, bà đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Về phía ông H, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp theo đúng thủ tục luật định nhưng ông H không có văn bản trả lời về yêu cầu xin ly hôn của bà Gi. Do đó, có cơ sở xác định ông H và bà Gi đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Gi về việc xin ly hôn với ông H.

- Về việc nuôi con: Căn cứ vào giấy khai sinh số 326, quyển số 02/2007 ngày 09/11/2007 do Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì bà Gi và ông H có 01 con là trẻ Nguyễn Ngọc Băng Tâm, sinh ngày 19/10/2007. Hiện nay trẻ đang chung sống ổn định cùng bà Gi. Nay bà Gi yêu cầu được tiếp tục nuôi con, ông H không có ý kiến, trẻ T có yêu cầu được tiếp tục ở với bà Gi, nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, giao trẻ T cho bà Gi tiếp tục trực tiếp nuôi. Ghi nhận việc bà Gi không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản: Không có.

- Về nợ: Không có.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Ôn Thị Thúy Gi là nguyên đơn yêu cầu ly hôn, nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Gi phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì"các"lẽ"trên," !

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ; Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ôn Thị Thúy Gi.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ôn Thị Thúy Gi được ly hôn với Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H).

- Về việc nuôi con: Giao trẻ Nguyễn Ngọc Băng T, sinh ngày 19/10/2007 cho bà Ôn Thị Thúy Gi trực tiếp nuôi. Ghi nhận việc bà Ôn Thị Thúy Gi không yêu cầu Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 82, 83, 84, Điều 116, 117 Luật hôn nhân gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản: Không có.

- Về nợ: Không có. 2. Bà Ôn Thị Thúy Gi phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà Ôn Thị Thúy Gi đã nộp theo biên lai số AA/2017/0049178 ngày 24/7/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ôn Thị Thúy Gi đã nộp đủ án phí. 3. Bà Ôn Thị Thúy Gi có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; Ông Nguyen Phuoc H (Nguyễn Phước H) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"

!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- TAND Tối cao;

!!!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- TAND Cấp cao tại Tp. HCM;

!

- VKSND Tp. HCM ;

!

- VKSND cấp cao tại Tp. HCM;

- Cục THADS Tp. HCM;

!

- UBND Tp. HCM;

!

- Sở Tư pháp Tp. HCM ;

!!!!!!!!!Quách!Thanh!Bình

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ (20). THÀNH!VIÊN!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!

THẨM!PHÁN!!

CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

!

!

!

!

!

Quách!Thanh!Bình!

!!!!!!

Cỡ chữ