vanban.org

Bản án 720/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 31/08/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng về việc yêu cầu hủy các quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện Long Th gồm: Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tr…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 720/2022/HC-PT
Ngày 31 tháng 8 năm 2022.
V/v: “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định
Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và
Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện
pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất
đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Huynh

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Long

Bà Huỳnh Thanh Duyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đoạn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 464/2020/TLPT-HC ngày 26 tháng 8 năm 2020 về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2020/HC-ST ngày 21 tháng 5 năm 2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1510/2022/QĐPT-HC ngày 03 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 và bà Trương Thị Thu Ng, sinh năm 1982 (có mặt).

Cùng địa chỉ: 226/72, tổ BS, ấp B, xã Tam A, huyện Long Th, tỉnh Đồng Nai.

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th (có đơn xin vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Th – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th (có đơn xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hoàng Mạnh H – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Long Th (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp: Bà Trương Thị Thu Ng, sinh năm 1982, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 13/11/2019) (có mặt).

Cùng địa chỉ: 226/72, tổ BS, ấp B, xã Tam A, huyện Long Th, tỉnh . Đồng Nai.

- Người kháng cáo: Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người khởi kiện – ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng trình bày:

Nguồn gốc đất: Diện tích đất 1.874,5m2 thuộc một phần thửa 350, tờ bản đồ 03, xã Tam A, có diện tích 3.169m2, bao gồm đất ở và đất trồng cây lâu năm. Đất do cha mẹ ông B khai phá, từ năm 1976 và sử dụng liên tục đến năm 1990 thì cho gia đình ông B, bà Ng. Ông B, bà Ng tiếp tục sử dụng phần diện tích đất trên cho đến thời điểm có Quyết định số 5938/QĐ CCNP ngày 18/12/2017, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th, về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Theo nội dung của Quyết định hành chính nêu trên thể hiện: Ông Nguyễn Văn B có hành vi trồng tràm trên diện tích đất 1.874,5m2, để chiếm đất ở các thửa số 278, 279, 280, 281, 282 cắt thửa 273, tờ bản đồ 27, tại ấp 5, xã Tam A, huyện Long Th, đã được cấp Giấy chứng nhận cho Công ty Cổ phần S Long Th, bà Lại Đỗ Qu và bà Phùng Thị T. Từ đó, buộc ông B, bà Ngh phải di dời toàn bộ cây tràm đã trồng, khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm, trả lại đất lấn, chiếm.

Ông B, bà Ng không đồng ý với Quyết định hành chính nêu trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th. Vì diện tích đất 1.874,5m2, thuộc thửa 350, tờ bản đồ 03, xã Tam A do cha mẹ ông B, bà Ng khai phá từ năm 1976, sử dụng ổn định cho đến nay, có giấy xác nhận nguồn gốc đất do UBND xã Tam A xác nhận ngày 27/02/2002. Ông bà không có hành vi lấn, chiếm đất được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ. Ông B, bà Ng không chuyển nhượng đất cho bà Lại Đỗ Qu, bà Phùng Thị T, cũng không có quyết định thu hồi đất, bồi thường đất của gia đình ông bà để giao cho Công ty Cổ phần S Long Th. Vì vậy, đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho Công ty Cổ phần S Long Th số BG 601873, BG 601878, BG601879, BG 601882; cấp cho bà Lại Đỗ Qu số BG601880; cấp cho bà Phùng Thị T số BG 601881 cùng ngày 12/9/2011, không liên quan đến diện tích đất 1.874,5m2 nằm trong thửa 350, tờ bản đồ 03, mà gia đình ông bà đang sử dụng. Đồng thời, Quyết định số 5983/QĐ-CCXP đã vi phạm Điều 12 của Luật Đất đai năm 2013.

Do đó, ông B, bà Ng khởi kiện và khởi kiện bổ sung với yêu cầu hủy các Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th.

Người bị kiện - Ủy ban nhân dân huyện Long Th và người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Long Th – ông Lê Văn T trình bày:

Sau khi kiểm tra, rà soát hồ sơ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thu Ng và ông Nguyễn Văn B, thì toàn bộ quá trình để ban hành Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 thể hiện như sau:

Ngày 25/12/2013, Công ty Cổ phần S Long Th có Văn bản số 589/SZL-KDTT về việc xây dựng hàng rào khu công nghiệp Long Th và khu dân cư Tam A 1, tại xã Tam A, gửi UBND huyện Long Th, Công an huyện Long Th, UBND xã Tam A.

Ngày 23/06/2014, Công ty Cổ phần S Long Th có Văn bản số 304/SZL-KDTT về việc các vướng mắc tồn đọng tại dự án KCN Long Th, khu dân cư Tam A 1 và khu tái định cư Tam A gửi UBND huyện Long Th, UBND xã Tam A.

Ngày 22/03/2016, Công ty Cổ phần S Long Th có Văn bản số 145/SZL-KDTT về việc đóng góp ý kiến dự thảo đề xuất xử lý các khó khăn vướng mắc còn tồn tại của dự án KCN Long Th, KDC Tam A và Khu tái định cư Tam A tại xã Tam A gửi UBND huyện Long Th.

Ngày 09/08/2016, Công ty Cổ phần S Long Th có Văn bản số 507B/SZL-KDTT, về việc các trường hợp tái lấn chiếm, vướng mắc, trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tại các dự án Khu dân cư Tam A và Khu tái định cư Tam A, gửi UBND tỉnh Đồng Nai.

Ngày 11/10/2016, Công ty Cổ phần S Long Th có Văn bản số 640/sZL-KDTT, về việc tình hình tái lấn chiếm tại dự án Khu dân cư Tam A 1, xã Tam A, huyện Long Th gửi UBND huyện Long Th, UBND xã Tam A.

Ngày 19/07/2017, Tổ Công tác theo Quyết định số 2019/QĐ-UBND của huyện Long Th tiến hành kiểm tra và lập biên bản hiện trạng sử dụng đất lấn, chiếm tại Khu dân cư Tam A 1, xã Tam A đối với ông Nguyễn Văn B.

Ngày 21/8/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường có Giấy mời số 261/GM-TNMT mời ông Nguyễn Văn B làm việc liên quan đến việc sử dụng đất tại dự án Khu dân cư Tam A 1, Xã Tam A.

Ngày 28/8/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã Tam A lập biên bản làm việc và Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, số 24/BB-VPHC, đối với ông Nguyễn Văn B, vì ông B đã có hành vi vi phạm hành chính, chiếm đất ở, quy định tại Khoản 3 Điều 10 của Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Ông Nguyễn Văn B có mặt nhưng không đồng ý nội dung vi phạm và không ký tên vào biên bản.

Ngày 29/8/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã Tam A lập Biên bản niêm yết công khai Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 24BB-VPHC đối với ông Nguyễn Văn B tại trụ sở UBND xã Tam A và trụ sở ấp 5, xã Tam A.

Ngày 30/08/2017, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Long Th thiết lập bản đồ hiện trạng thửa đất số 10757/2017, thể hiện vị trí và diện tích chiếm đất của ông Nguyễn Văn B tại thửa đất số 278, 279, 280, 281,282, cắt thửa 273, tờ bản đồ số 27 xã Tam A.

Ngày 20/11/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường có Tờ trình số 1982/TTr-TNMT về việc ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyễn Văn B, do đã hết thời hạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 22/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B. Theo đó, buộc ông B phải khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và trả lại đất đã chiếm.

Ngày 23/11/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã Tam A giao Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ cho ông Nguyễn Văn B để thực hiện, nhưng ông B không nhận, Đoàn làm việc lập biên bản số 06/BB-KNQĐ, về việc không nhận quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Ngày 24/11/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã Tam A lập Biên bản niêm yết công khai Quyết định số 5503/QĐKPHQ, tại trụ sở UBND xã Tam A và trụ sở ấp B, xã Tam A.

Ngày 06/12/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã Tam A lập Biên bản kiểm tra việc thực hiện Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B. Theo đó, qua kiểm tra thực tế ghi nhận ông Nguyễn Văn B chưa thực hiện khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và chưa trả lại đất đã chiếm theo nội dung Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017.

Ngày 11/12/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường có Tờ trình 27/TTr-TNMT về việc ban hành Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện pháp . khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyễn Văn B.

Ngày 18/12/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5983/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B.

Ngày 27/12/2017, đoàn cưỡng chế theo Quyết định số 6223/QĐUBND của UBDN huyện phối hợp UBND xã Tam A giao Quyết định số 5983/QĐ CCNP cho ông Nguyễn Văn B để thực hiện. Ông B nhận Quyết định số 5983/QĐ-CCXP nhưng không ký biên bản do đó Đoàn cưỡng chế lập biên bản việc nhận quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả có sự chứng kiến của chính quyền địa phương.

Ngày 28/12/2017, đoàn cưỡng chế theo Quyết định số 6223/QĐUBND của UBDN huyện phối hợp UBND xã Tam A lập Biên bản niêm yết công khai Quyết định số 5983/QĐ-CCXP tại trụ sở UBND xã Tam A và trụ sở ấp B, xã Tam A.

Qua kết quả kiểm tra, rà soát hồ sơ nêu trên, nhận thấy: Việc Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ, về việc Áp dụng biện pháp khắc phục hậu và Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017, về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, đối với ông Nguyễn Văn B là đảm bảo trình tự, thủ tục, theo quy định tại Điều 28, 65, 85, 86, 87 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì vậy, người bị kiện không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B bà Ng, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị Thanh Tr trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của người khởi kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2020/HC-ST ngày 21/5/2020, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

Căn cứ Điều 3, 30, 32, 116, 193, 194, 204 của Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 6, 28, 58, 65, 66, 85, 86, 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 3, 10, 31, 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng đối với việc: Hủy Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017, về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017, về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đều của Chủ tịch UBND huyện Long Th.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/5/2020, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, bà Ng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng trình bày: Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 24/BB-VPHC lập ngày 28/8/2017 với tràm 01 năm tuổi theo quy định khi phát hiện vi phạm hành chính phải kịp thời lập biên bản chứ không được để 01 năm mới tiến hành lập biên bản. Ngày 22/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B là sai, không lập biên bản thực hiện Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả xử phạt vi phạm hành chính là sai. Việc thực hiện Quyết định cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả gây ra phải được lập biên bản giao cho người bị cưỡng chế 01 bản tuy nhiên Chủ tịch UBND huyện Long Th không thực hiện quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, không lập biên bản là sai. Về nguồn gốc đất thuộc quyền sở hữu của gia đình của ông B, bà Ng nhưng ông B, bà Ng không biết đất nằm trong dự án nào cụ thể là Khu Công nghiệp An Phước 2, khu dân cư Tâm An 1, Khu công nghiệp Long Th, khu tái định cư xã Tâm An, thu hồi đất của gia đình tôi chưa có quyết định thu hồi, không ra quyết định phê duyệt sử dụng đất, không được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, không có quyết định thu hồi đất, không có quyết định bồi thường mà lại bồi thường trước khi thu hồi đất, cưỡng chế, phá dỡ tài sản trên đất sai pháp luật.

Ông Hoàng Mạnh H trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

- Việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

- Về nội dung: Phần diện tích đất là thuộc thửa 350, tờ bản đồ số 3, thửa mới là 278, 279, 280, 281, 282 cắt thửa 273, tờ bản đồ 27 thuộc phần diện tích mà UBND huyện Long Th, tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định thu hồi đất để xây dựng Khu dân cư Tam A 1, Khu công nghiệp Long Th tại xã Tam A và đã bồi thường việc thu hồi đất. Ông B đã nhận tiền bồi thường cũng như chính sách tái định cư. Đồng thời ông B cũng đã đồng ý bàn giao mặt bằng vào ngày 09/12/2013 do đó việc ông B và bà Ng trồng tràm trên diện tích đất đã thu hồi, bồi thường và bàn giao đất là hành vi lấn chiếm đất nên Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường lập Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai là đúng quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 3, Điều 10 và Điều 34 Nghị định số 102. Hành vi vi phạm của ông B đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Chủ tịch UBND huyện Long Th đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ông B và bà Ng không thực hiện nên Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành là đúng về cưỡng chế buộc thực hiện khắc phục hậu quả là đúng quy định tại Điều 6, Điều 28, Điều 58, Điều 65, Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Do ông B và bà Ng không thực hiện Quyết định khắc phục hậu quả nói trên để khôi phục lại tình trạng đất như trước khi vi phạm theo Biên bản kiểm tra vào ngày 06/12/2017 nên Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 là đúng quy định của pháp luật. Từ những phân tích nêu trên cho thấy việc Chủ tịch UBND huyện Long Th đã ban hành Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo của ông B và bà Ng là không có cơ sở. Đối với kháng cáo yêu cầu buộc Chủ tịch UBND huyện Long Th khôi phục lại tình trạng của thửa đất số 350, tờ bản đồ số 3 có nhà ở trên diện tích 1.874,5m2 tại xã Tam A. Nội dung yêu cầu kháng cáo này của ông B và bà Ng đã không nêu ra và không được giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm nên căn cứ theo quy định tại Điều 220 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì yêu cầu này không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo, nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí, đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về thời hiệu khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng còn trong thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm có một số đương sự vắng mặt nhưng các đương sự này đã ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng hoặc có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng yêu cầu hủy các quyết định sau đây:

- Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017, về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;

- Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017, về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đều của Chủ tịch UBND huyện Long Th.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông B, bà Ng yêu cầu hủy các quyết định nêu trên thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện:

Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:

Ngày 28/8/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 24/BB-VPHC đối với ông Nguyễn Văn B, vì có hành vi chiếm đất ở, trồng tràm 01 năm tuổi trên diện tích 1.874,5m2, tại các thửa số 278 279, 280, 281, 282, cắt thửa 273, tờ bản đồ số 27, xã Tam A, được quy định tại khoản 3 Điều 10 của Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ.

Ngày 22/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B. Ông B không nhận quyết định, nên quyết định đã được niêm yết tại UBND xã Tam A ngày 24/11/2017.

Ngày 06/12/2017, Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường phối hợp UBND xã Tam A lập biên bản kiểm tra việc thực hiện Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B. Qua kiểm tra thực tế ghi nhận ông Nguyễn Văn B chưa thực hiện khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm và chưa trả lại đất đã chiếm theo nội dung Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017.

Ngày 18/12/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5983/QĐ-CCXP Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn B. Ông B không nhận quyết định, nên quyết định đã được niêm yết tại UBND xã Tam A ngày 28/12/2017.

Như vậy, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các Quyết định số. 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 và Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Th là đúng quy định tại các điều 6, 28, 58, 65, 66, 85, 86, 87 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10, Điều 31, Điều 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về nội dung các quyết định hành chính bị khởi kiện:

Ông B bà Ng khởi kiện cho rằng: Ông, bà không có hành vi chiếm đất như Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 24/BB-VPHC ngày 28/8/2017, do Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường lập. Vì diện tích đất ông bà trồng tràm, thuộc một phần thửa 350, tờ bản đồ 03, xã Tam A có nguồn gốc do cha mẹ ông B khai phá từ năm 1976, đến năm 1990 cho lại ông B và bà Ng sử dụng ổn định, cho đến khi có Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện là giấy xác nhận nguồn gốc đất, của Ủy ban nhân dân xã Tam A, huyện Long Th ngày 01/01/2002; Tờ khai đất đai, tài sản giải tỏa ngày 21/12/2001.

Hội đồng xét xử xét thấy, toàn bộ diện tích đất nêu trên đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định thu hồi đất, bồi thường do thu hồi đất. Ông B đã nhận tiền bồi thường và tiến hành bàn giao mặt bằng vào ngày 09/12/2003, nhận đất tái định cư theo danh sách bốc thăm có số thứ tự số 117, số hiệu lô đất TĐC E3. Do đó, giấy xác nhận nguồn gốc đất nêu trên thể hiện: Phần đất thu hồi thực hiện dự án khu dân cư Tam A; thửa 350 tờ bản đồ số 03 (Bản đồ sử dụng số 222/BĐĐC tỷ lệ 1/2000 ngày 18/3/2002) có diện tích 3.169m2, trong đó có đất thổ cư 300m2 và Tờ khai đất đai, tài sản giải tỏa, công trình: Khu công nghiệp Phước An II xã Tam A, huyện Long Th, Đồng Nai ngày 21/12/2001 là các tài liệu phục vụ cho việc thu hồi đất và bồi thường do thu hồi đất.

Việc ông B, bà Ng trồng tràm trên diện tích đất đã được thu hồi, bồi thường, bàn giao đất cũng như đã nhận đất tái định cư là hành vi chiếm đất đối với diện tích 1.874,5m2, tại các thửa số 278, 279, 280, 281, 282, cắt thửa 273, tờ bản đồ số 27, xã Tam A, Long Th được đo vẽ tháng 10/2007 và được cập . nhật chỉnh lý đến ngày 25/8/2017 (thửa cũ 350, tờ bản đồ số 03 - Bản đồ sử dụng số 222/BĐĐC tỷ lệ 1/2000 ngày 18/3/2002), nên Đội kiểm tra Tài nguyên và Môi trường lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, là đúng quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 3, 10, 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 22/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, đối với ông Nguyễn Văn B, do đã hết thời hạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính .

Ông B chưa thực hiện khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm, chưa trả lại đất đã chiếm theo Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ nên ngày 18/12/2017, Chủ tịch UBND huyện Long Th ban hành Quyết định số 5983/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông B là đúng với quy định tại các Điều 86, 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, xét thấy ông B bà Ng khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện Long Th là không có căn cứ, nên không được chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, bác toàn bộ kháng cáo của Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Điều 6, 28, 58, 65, 66, 85, 86, 87 của Luật Xử lý vi phạm hành : chính năm 2012;

Căn cứ Điều 3, 10, 31, 34 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 2 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

Căn cứ Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng về việc yêu cầu hủy các quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện Long Th gồm:

- Quyết định số 5503/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;

- Quyết định số 5983/QĐ-CCXP ngày 18/12/2017 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đều của Chủ tịch UBND huyện Long Th.

3. Về án phí:

3.1. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001264 ngày 30/01/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

3.2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B và bà Trương Thị Thu Ng phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003866 ngày 09/6/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ