- Tranh chấp gì? "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n HuyÖn hoµi ®øc - hµ néi --------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 72/2018/HSST Ngµy: 06/9/2018 N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn hoµi ®øc - TP hµ néi Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ: C¸c héi thÈm nh©n d©n: 1. Bà Đoàn Thị Th. 2. Ông Trần Mạnh Kh. Th ký phiªn toµ: Bà Ngô Thị L §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Hoµi §øc tham gia phiªn toµ: Bà Trần Thị H, KSV xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2018/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Đăk Lăk; Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Xuân T và bà Bùi Thị H; chưa có vợ, con: tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà). Người bị hại: Anh Đào Quang Th, sinh năm 1981. thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên toà). | Ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện HĐ, TP Hà Nội |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ sáng ngày 17/05/2018, anh Luận bảo V đi cùng anh Đỗ Văn Ph (sinh năm 1981, HKTT: xã TH, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên) đến phòng 1508 Toà nhà Công vụ thuộc Viện khoa học Công nghệ Quân sự - Bộ Quốc phòng ở thôn D, xã DT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội) để làm trần thạch cao cho anh Nguyễn Văn Ph. Khi vào trong phòng 1504, V đã phát hiện thấy chiếc điện thoại IPHONE 6S Plus của anh Th đang sạc trên kệ ti vi gần cửa ra vào. Sau đó, anh Ph đi có việc còn V và Ph về phòng 1508 làm trần cho đến gần 12 giờ cùng ngày thì nghỉ làm để đi ra ngoài ăn cơm trưa. Khoảng 30 phút sau khi ăn trưa về đến toà nhà, Ph đi cất xe máy còn V lên tầng 15 trước, khi đi qua phòng 1504. V vẫn thấy chiếc điện thoại IPHONE 6S Plus của anh Th sạc trên kệ tivi mà cửa phòng mở không ai trông giữ nên V này sinh ý định trộm cắp tài sản. V đi đến chỗ điện thoại rút dây sạc ra khỏi điện thoại rồi mang điện thoại ra khỏi phòng của anh Th. Trên đường về phòng 1508, V tắt nguồn điện thoại rồi cất giấu ở trên nóc trần trong nhà vệ sinh của phòng.
Đến khoảng 13 giờ ngày 17/05/2018, anh Th phát hiện bị mất điện thoại Iphone 6S Plus nên sang hỏi Ph và V thì V bảo không biết ai lấy. Đến khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, anh Th đến Công an xã DT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội trình báo sự việc bị mất trộm điện thoại. Khi lực lượng Công an xã DT đến hiện trường làm việc, biết là không thể chối cãi được nên V đã đến đầu thú tại Công an xã DT và giao nộp chiếc điện thoại IPHONE 6S Plus mà V đã lấy trộm của anh Th.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 81/KL-ĐGTS ngày 05/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HĐ xác định 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S Plus màu bạc, bản 16GB, có số IMEI: 353283073107133, phiên bản quốc tế, đã qua sử dụng mua cũ tháng 10/2017 có giá: 3.667.000 đồng (Ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/6/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HĐ đã trao trả cho anh Đào Quang Th chiếc điện thoại nêu trên, sau khi nhận lại tài sản anh Th không có yêu cầu đề, nghị gì về bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSHĐ ngày 09/8/2018 của Viện kiểm sát huyện HĐ đã truy tố Lê Xuân V về tội trộm cắp tài sản, ¸p dông kho¶n 1 ®iÒu 173 Bé luËt h×nh sù. Tại phiên tòa Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị HĐXX xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân V phạm téi trộm cắp tài sản. ¸p dông kho¶n 1 ®iÒu 173, ®iÓm i, s kho¶n 1, kho¶n 2 ®iÒu 51, ®iÒu 38, 65 Bé luËt h×nh sù. Đề nghị xö ph¹t: Lê Xuân V 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 - 30 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 8 giờ sáng ngày 17/05/2018, V đến phòng 1508 Toà nhà Công vụ thuộc Viện khoa học Công nghệ Quân sự - Bộ Quốc phòng ở thôn D, xã DT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội để làm trần thạch cao, khoảng 12 giờ cùng ngày V đi qua phòng 1504 của anh Th thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S Plus trị giá: 3.667.000 đồng đang sạc pin, lợi dụng sơ hở V lén lút trộm cắp chiếc điện thoại. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của anh Th được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích phạm tội là chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền chi tiêu bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đúng với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật đã thu giữ được. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Xuân V phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đó là tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đối chiếu với quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự và điều 2 nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân Tối Cao cho bị cáo được hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Th đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường về dân sự nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vât chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Zip83, vỏ màu đen, số Imei: 359455030042447, bên trong lắp sim số: 0945806331 cơ quan điều tra thu giữ của Lê Xuân V không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ điều 46 Bộ luật hình sự và khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho Lê Xuân V.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX thấy không có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân V phạm tội trộm cắp tài sản.
Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 38, 65 Bộ luật hình sự.
Xö ph¹t: Lê Xuân V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Lê Xuân V cho UBND xã XP, huyện EK, tỉnh Đăk Lăk để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Lê Xuân V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Lê Xuân V cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng: ¸p dông điều 46 Bộ luật hình sự, khoản 3, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho Lê Xuân V 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Zip83, vỏ màu đen, số Imei: 359455030042447, bên trong lắp sim số: 0945806331 (theo biên bản giao vật chứng ngày 09/8/2018)
VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 1, 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 22 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Xuân V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sở thẩm.
C¨n cø §iÒu 331, 333 cña Bé luËt tè tông h×nh sù:
Bị cáo Lê Xuân V được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Th được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết. Nơi gửi:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Toà án TP Hà Nội
| -VKS huyện HĐ - Chi cục THADS huyện HĐ - Dán án - Lưu hồ sơ | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thành Tr |