vanban.org

Bản án 72/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hồ Minh N phải chịu 200.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hồ Minh N phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/HS-PT
Ngày: 13/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Văn Thường

Các thẩm phán:

Ông Trần Đức Kiên

Ông Đinh Phước Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoàng, Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 251/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Hồ Minh N về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hồ Minh N (tên gọi khác: B), sinh ngày 10/8/1984 tại thành phố H; nơi ĐKHKTT: Số A kiệt C, V, phường K, quận P, thành phố H; nơi cư trú: Thôn T, xã P, thị xã P, thành phố H (nay là phường P, thành phố H); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Hồ T, sinh năm: 1952 và bà: Huỳnh Thị Đ, sinh năm: 1954; vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 25/5/2001, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 50.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản; ngày 04/4/2006, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 200.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 25/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (Bản án số 223/HSST); ngày 20/3/2019, bị Công an thành phố Đ xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 14/4/2020, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hồ Minh N: Luật sư Nguyễn Thị S – Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/8/2024, tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Hồ Minh N mua của của 01 đối tượng theo N khai là Nguyễn Văn T1, trú tại A L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) ma túy gồm các loại: Heroin, Methamphetamine. N sử dụng tài khoản 0344027035 mang tên Hồ Minh N mở tại ngân hàng Q (MB) chuyển 90.000.000 đồng vào tài khoản 50622556688 mang tên Nguyễn Thị S1, sinh năm 2000, trú tại A L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh mở tại ngân hàng TMCP V2 (V3), số tiền còn lại Nhật trả bằng tiền mặt. Mục đích N mua ma túy là đưa về thành phố H để bán lại.

Sau khi mua ma túy, N đi xe ô tô khách về thành phố H, sáng ngày 19/8/2024, N xuống xe ở khu vực ga V, thị xã H, thành phố H rồi gọi điện cho bạn là Nguyễn Văn V1. V1 mượn xe mô tô của anh rể là Dương Đức S2, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H đến đón và đưa N về nhà của V1 ở tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H. Tại nhà V1, N lấy 01 gói quấn bằng băng keo đen, bên trong có 02 gói nhỏ (loại túi zip) ma túy cho V1 để sử dụng. V1 cất ma túy vào tủ gỗ để ở phòng khách rồi lấy các dụng cụ sử dụng ma túy mang vào phòng ngủ của V1, N lấy 04 viên ma túy loại hồng phiến và sử dụng cùng với V1. Đến 11 giờ 25 phút cùng ngày, Công an thị xã H phát hiện, V1 bị bắt quả tang, còn N bỏ chạy, để lại toàn bộ số ma túy và điện thoại tại nhà V1, đến 20 giờ 00 cùng ngày thì N bị bắt.

Hồ Minh N khai đã 02 lần mua ma túy của Nguyễn Văn T1, lần đầu mua 90.000.000đ và đã bán lại cho nhiều đối tượng ở thành phố H, lần thứ hai là ngày 18/8/2024 chưa bán cho ai thì bị phát hiện bắt giữ. Quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc mua bán trái phép chất ma túy giữa Hồ Minh N và Nguyễn Văn T1; không xác minh được số lần N bán ma túy, nhân thân, lai lịch của các đối tượng mua ma túy của N.

Vật chứng thu giữ:

Tại nhà của Nguyễn Văn V1:

- 01 gói quấn bằng băng keo đen, bên trong có 02 túi nilon nhỏ (túi zip) đều có viền xanh, trong đó 01 gói có kích thước (4 x 4)cm, 01 gói có kích thước (3 x 3)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng.

- 05 túi nilon có viền đỏ, trong đó 04 túi có cùng kích thước (13 x 8,5)cm, 01 túi có kích thước (9,5 x 6)cm đều chứa chất tinh thể rắn màu trắng.

- 01 gói nilon dạng hình khối chữ nhật kích thước (12 x 10 x 2,5)cm chứa chất bột khô màu trắng.

- 01 túi nilon chứa 1 nilon có kích thước (4,5 x 3,2)cm chứa chất bột khô màu trắng.

- 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 1: 352117352258103, SỐ IMEI 2: 35211735225810 của Hồ Minh N;

- 01 điện thoại Nokia có vỏ màu hồng, số seri: 35427538226394 của Nguyễn Văn V1;

- 01 tờ giấy bạc; 01 bật lửa; 01 tờ giấy bạc bị cháy xém 01 phần; 01 tờ tiền 1000 đồng đã được quấn thành hình ống; 01 tờ tiền 5000 đồng đã được quấn thành hình ống; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu vàng, cổ chai có phần nhựa màu xanh, phía trái nắp chai có gắn 01 ống nhựa thẳng vào trong chai, cách đáy chai 3,5cm có đục 01 lỗ, trên lỗ đục có gắn tờ tiền mệnh giá 1000 đồng đã được quấn thành dạng hình ống;

- Một túi nilon cũ màu trắng, có dòng chữ "PITI STORE" màu đen;

Tại nhà của Nguyễn Văn T1, ở A Lý Anh T , phương V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh: Không phát hiện thu giữ gì.

* Tại Kết luận giám định số 595/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Chất chất tinh thể rắn màu trắng có tổng khối lượng là 353,71 gam đựng trong 05 túi nilon đều có viền đỏ, là ma tuý loại Methamphetamaine.

- Chất bột khô màu trắng có khối lượng 257,47 gam đựng trong gói dạng hình khối chữ nhật kích (12x10x2,5)cm, là ma tuý loại Heroin.

- Chất bột khô màu trắng có tổng khối lượng là 2,10 gam đựng trong 02 túi nilon đều có viền xanh, là ma tuý loại Heroin.

H lại đối tượng sau giám định:

- 353,51 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và 260,73 gam mẫu chất bột khô màu trắng.

- Các vật liệu dùng để bao gói khi gửi giám định (BL 96,97).

Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hồ Minh N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Minh N phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 22 (hai mươi hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 19/8/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt của các bị cáo khác trong vụ án và phần xử lý vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 25/4/2025, bị cáo Hồ Minh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ánh M giữ nguyên kháng cáo. Luật sư đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị không chấp nhận kháng cáo bị cáo N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Ngày 18/8/2024, tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Hồ Minh N đã mua 259,23 gam ma túy, loại Heroin và 353,71 gam ma túy, loại Methamphetamine với số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) đem vào thành phố H nhằm mục đích để bán. Sáng ngày 19/8/2024, Hồ Minh N xuống xe ở khu vực ga V, thị xã H, thành phố H và được Nguyễn Văn V1 đến đón rồi chở về nhà của V1 ở tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H. Tại đây, Hồ Minh N cho V1 2,10 gam ma túy Heroin, Nguyễn Văn V1 cất giữ số lượng ma túy này vào tủ để sử dụng. Sau đó, V1 lấy các dụng cụ sử dụng ma túy mang vào phòng ngủ của mình, N lấy ra 04 viên ma túy loại hồng phiến và cả hai cùng sử dụng. Đến 11 giờ 25 phút cùng ngày thì bị phát hiện, Nguyễn Văn V1 bị bắt quả tang, còn Hồ Minh N bỏ chạy để lại toàn bộ số ma túy, đến 20 giờ 00 cùng ngày thì bị bắt tang.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xét xử bị cáo Hồ Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại dụng điểm b khoản 4 Điều 251, khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Hồ Minh N; Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đã 04 lần bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính, 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2017.

[2.3] Bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; gia đình có hoàn cảnh khó khan, bị cáo là lao đọng chính. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS đã được cấp sơ thẩm áp dụng.

Từ những phân tích trên, căn cứ tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt là phù hợp với đề nghị của Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng.

Theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Hồ Minh N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Minh N và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

1. Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Minh N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Minh N phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 22 (hai mươi hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 19/8/2024.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hồ Minh N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ